Đề cương tuyên truyền Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024

Sáng ngày 29/6/2024, Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 7 biểu quyết thông qua Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) bằng hình thức biểu quyết điện tử. Kết quả như sau:

Đối với quy định rút bảo hiểm xã hội một lần: có 470 đại biểu tham gia biểu quyết (bằng 96.71% tổng số ĐBQH); có 456 đại biểu tán thành (bằng 93.83% tổng số ĐBQH); có 05 đại biểu không tán thành (bằng 1.03% tổng số ĐBQH); có 09đại biểu không biểu quyết (bằng 1.85% tổng số ĐBQH).

Đối với toàn bộ Luật: có 465 đại biểu tham gia biểu quyết (bằng 95.68% tổng số ĐBQH); có 454 đại biểu tán thành (bằng 93.42% tổng số ĐBQH); có 05 đại biểu không tán thành (bằng 1.03% tổng số ĐBQH); có 06 đại biểu không biểu quyết (bằng 1.23% tổng số ĐBQH).

Decuongtuyentruyen.com giới thiệu tới  bạn đọc Đề cương tuyên truyền  Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024, gồm 02 phần: Phần 1. Sự cần thiết ban hành Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024. Phần 2: Những nội dung mới của Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024

Đề cương tuyên truyền Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024
Đề cương tuyên truyền Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024

Phần 1. Sự cần thiết ban hành Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024

  1. Về cơ sở chính trị:

– Tại Điều 34 của Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”.

– Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23 tháng 5 năm 2018 về cải cách chính sách BHXH (sau đây được viết là Nghị quyết số 28-NQ/TW). Với mục tiêu: “Cải cách chính sách BHXH để BHXH thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ BHXH, hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân. Phát triển hệ thống BHXH linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách BHXH tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch.”. Nghị quyết số 28-NQ/TW cũng đã đề ra 11 nội dung cải cách[1], 05 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó xác định nhiệm vụ: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, việc làm, BHXH”.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp liên quan trực tiếp đến việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội, trong đó có chính sách BHXH, như: “Cải cách hệ thống BHXH đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng – hưởng, chia sẻ – bền vững” (tập I, trang 150); “Hoàn thiện hệ thống luật pháp về BHXH, tiến tới thực hiện BHXH toàn dân. Phát triển hệ thống BHXH linh hoạt, đa dạng, đa tầng hiện đại, hội nhập quốc tế; kết hợp hài hòa nguyên tắc đóng góp và thụ hưởng; công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Tiếp tục hiện đại hóa quản lý BHXH theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2030 có khoảng 60% lực lượng lao động tham gia BHXH (tập I, trang 270); “Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và chế tài xử lý vi phạm thuộc các lĩnh vực liên quan như … BHXH. Bảo đảm cân đối quỹ BHXH trong dài hạn; từng bước tách việc điều chỉnh lương hưu với điều chỉnh tiền lương của người đang làm việc; thực hiện điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình. Phấn đấu đến năm 2025, tỉ lệ lao động trong độ tuổi tham gia BHXH là 45%” (tập II, trang 141).

  Văn kiện Đại hội 13 của Đảng
Bộ câu hỏi trắc nghiệm tìm hiểu Văn kiện Đại hội 13 của Đảng

2. Cơ sở thực tiễn, pháp lý

2.1 Chương I. Những quy định chung

a) Về phạm vi điều chỉnh

– Nghị quyết số 28-NQ/TW quy định việc xây dựng hệ thống BHXH đa tầng gồm: (1) Trợ cấp hưu trí xã hội; (2) BHXH cơ bản, bao gồm BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện; (3) Bảo hiểm hưu trí bổ sung. Hiện nay, Luật BHXH năm 2014 đã quy định tầng BHXH cơ bản và bảo hiểm hưu trí bổ sung, nhưng có quy định tầng trợ cấp hưu trí xã hội đối với người cao tuổi không có lương hưu hoặc BHXH hằng tháng theo đúng tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW nêu trên.

– Luật BHXH năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2014, khi đó chưa có Luật An toàn, vệ sinh lao động, do đó, nội dung chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được quy định thành một mục trong Luật Bảo hiểm xã hội là phù hợp. Tuy nhiên, hiện nay chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã được quy định chi tiết trong Luật An toàn, vệ sinh lao động với quan điểm các quy định về an toàn, vệ sinh lao động giúp giảm thiểu nguy cơ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Do đó, các nội dung chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không quy định tại Luật BHXH là phù hợp với thực tế khách quan.

b) Về đối tượng áp dụng

– Việc quy định về đối tượng người lao động, người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện lồng trong đối tượng áp dụng như quy định của Luật BHXH năm 2014 là phù hợp với bối cảnh Luật BHXH năm 2014 chỉ tập trung quy định về các chế độ, chính sách đối với BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, còn giao Chính phủ quy định chi tiết đối với bảo hiểm hưu trí bổ sung. Tuy nhiên, để thể chế các nội dung cải cách theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, Luật BHXH (sửa đổi) cần bổ sung quy định chế độ trợ cấp hưu trí xã hội, mà tầng này không có đối tượng tham gia chỉ có đối tượng thụ hưởng không đồng nhất với nhóm đối tượng thụ hưởng của chính sách BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, do đó việc quy định đối tượng tham gia các chế độ BHXH lồng trong đối tượng áp dụng của Luật như hiện nay là không còn phù hợp.

– Bên cạnh đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện thì đối tượng áp dụng của Luật BHXH năm 2014 chỉ quy định chung về cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHXH mà chưa quy định đối tượng thụ hưởng các chế độ BHXH, cơ quan quản lý nhà nước về BHXH, cơ quan tổ chức thực hiện BHXH. Điều này gây ra một số khó khăn trong việc áp dụng các quy định của Luật cũng như việc quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các quy định của Luật.

– Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trong Luật BHXH năm 2014 chưa bao gồm chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý, điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương, người lao động làm việc theo chế độ linh hoạt theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, người lao động làm việc không trọn thời gian theo quy định của Bộ luật Lao động…

c) Về giải thích từ ngữ

– Luật BHXH năm 2014 quy định thuật ngữ “BHXH” là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi gặp các sự kiện bảo hiểm trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH, tuy nhiên, việc bổ sung tầng trợ cấp hưu trí xã hội theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW là khoản trợ cấp của ngân sách nhà nước cho đối tượng đủ điều kiện theo quy định khiến việc giải thích thuật ngữ BHXH như trên không còn phù hợp.

– Việc bổ sung tầng trợ cấp hưu trí xã hội vào Luật BHXH đòi hỏi việc bổ sung quy định về giải thích từ ngữ đối với nội dung tầng trợ cấp hưu trí xã hội.

Trắc nghiệm Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu
Quy định về độ tuổi nghỉ hưu

– Hiện nay, Việt Nam đã ký Hiệp định song phương về bảo hiểm xã hội với Hàn Quốc và đang khởi động đàm phán với một số quốc gia khác như Đức, Nhật Bản,… tuy nhiên, Luật BHXH năm 2014 chưa có quy định về thời gian đóng BHXH đối với trường hợp người lao động đóng BHXH theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia. Điều này gây khó khăn cho quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế về bảo hiểm xã hội.

– Thuật ngữ “thân nhân” chỉ sử dụng trong chương quy định về chế độ tử tuất trong chính sách BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, đồng thời tại các Điều quy định về thân nhân trong chế độ tử tuất đã được quy định cụ thể với các điều kiện kèm theo. Do đó, việc giải thích thuật ngữ “thân nhân” tại Điều về giải thích từ ngữ là không cần thiết.

d) Về các chế độ BHXH

– Luật BHXH năm 2014 chưa quy định chế độ trợ cấp hưu trí xã hội (thể chế hóa Nghị quyết số 28-NQ/TW) và chế độ thai sản đối với người tham gia BHXH tự nguyện.

– Luật An toàn, vệ sinh lao động đã quy định cụ thể chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong chính sách BHXH bắt buộc và đề cập đến việc “tham gia và hưởng bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện do Chính phủ quy định”, tuy nhiên trong Luật BHXH năm 2014 chưa đề cấp đến chế độ tai nạn lao động trong BHXH tự nguyện đồng thời chưa dẫn chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp trong chính sách BHXH bắt buộc theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động.

đ) Về nguyên tắc bảo hiểm xã hội

Điều “Nguyên tắc bảo hiểm xã hội” quy định những nguyên tắc chung nhất trong thực hiện chính sách BHXH (trợ cấp hưu trí xã hội, BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện), do đó việc quy định nội dung “thời gian đóng bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng BHXH một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH” trong nguyên tắc bảo hiểm xã hội là chưa phù hợp, nên đặt trong nội dung về thời gian đóng BHXH.

e) Về chính sách của Nhà nước đối với BHXH

– Luật BHXH năm 2014 chưa quy định chính sách của Nhà nước đối với tầng trợ cấp hưu trí xã hội như bảo đảm chi trả trợ cấp hưu trí xã hội, khuyến khích các địa phương tùy theo điều kiện khả năng cân đối ngân sách và khuyến khích các địa phương tuy theo điều kiện khả năng cân đối ngân sách và huy động các nguồn lực xã hội để các đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng có mức hưởng cao hơn.

– Luật BHXH năm 2014 chưa quy định chính sách của Nhà nước đối với việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia BHXH.

– Quy định “Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để quản lý, thực hiện bảo hiểm xã hội” tại Khoản 1 Điều 9 về Hiện đại hóa quản lý bảo hiểm xã hội thuộc nội dung về chính sách của Nhà nước.

– Luật BHXH năm 2014 mới chỉ quy định chính sách của Nhà nước về ưu tiên đầu tư phát triển công nghệ thông tin, công nghệ, phương tiện kỹ thuật tiên tiến trong quản lý và thực hiện BHXH, tuy nhiên đây chỉ là một nội dung nhỏ trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực hiện chính sách BHXH. Qua kinh nghiệm thực tiễn, để chính sách BHXH hợp lý, hiệu quả cần Nhà nước ưu tiên xây dựng chính sách, hoàn thiện pháp luật về BHXH, phát triển hệ thống tổ chức thực hiện chính sách BHXH (trong đó đã bao hàm nội dung về công nghệ thông tin, công nghệ, phương tiện kỹ thuật).

i) Về quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn

Điểm d khoản 1 Điều 14 Luật BHXH năm 2014 quy định tổ chức công đoàn có quyền khởi kiện ra Tòa án đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, tập thể người lao động theo quy định tại khoản 8 Điều 10 Luật Công đoàn.

Tuy nhiên việc thực hiện quy định này hiện còn vướng mắc do các quy định về quy trình, thủ tục khởi kiện trong các Luật liên quan còn chưa thống nhất. Để khởi kiện một vụ án vi phạm pháp luật về BHXH ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, tổ chức công đoàn phải có giấy ủy quyền của từng người lao động; phải qua thủ tục hòa giải của chủ tịch UBND cấp huyện. Nhưng trên thực tế, việc tổ chức công đoàn đi lấy hết ý kiến ủy quyền của hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người lao động là khó khả thi; và cũng ít có tổ chức công đoàn cơ sở nào đứng ra khởi kiện người sử dụng lao động của chính họ. Về phía người lao động cũng không dám ủy quyền để kiện chủ doanh nghiệp của mình khi bản thân cần việc làm. Còn đối với người sử dụng lao động luôn trốn tránh, không hợp tác làm việc với các cơ quan chức năng, không ký nhận biên bản đối chiếu công nợ để làm căn cứ hoàn thiện hồ sơ khởi kiện.

Do đó, để quy định “tổ chức công đoàn có quyền khởi kiện ra Tòa án đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, tập thể người lao động” đi vào thực tế cần rà soát các pháp luật có liên quan đến nội dung này và kiến nghị Quốc hội sửa đổi cho phù hợp.

Bên cạnh đó, cơ quan bảo hiểm xã hội là đơn vị có thông tin về quá trình đăng ký tham gia, đóng bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động do đó để tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật và sự tuân thủ pháp luật của người sử dụng lao động, có thể cân nhắc bổ sung quy định cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền khởi kiện ra Tòa án đối với hành vi vi phạm pháp luật của người sử dụng lao động như Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006.

k) Về chế độ báo cáo, kiểm toán

– Khoản 2 Điều 16 Luật BHXH 2014 quy định định kỳ 03 năm, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán quỹ BHXH và báo cáo kết quả với Quốc hội là chưa phù hợp với thực tiễn, tính chất quan trọng của quỹ BHXH. Bên cạnh đó, các bộ, cơ quan có liên quan chưa tiếp cận được toàn diện đối với báo cáo kiểm toán quỹ BHXH để có các giải pháp phù hợp nhằm khắc phục những hạn chế phát hiện sau kiểm toán.

Nội dung về kiểm toán Nhà nước đối với quỹ BHXH được quy định riêng tại Khoản 2 Điều 16 Luật BHXH 2014 là chưa phù hợp với kết cấu của Luật vì đây là nội dung chuyên sâu về quỹ BHXH. Đồng thời, quy định của pháp luật hiện nay mới chỉ quy định phê duyệt dự toán hàng năm của quỹ BHXH mà chưa quy định về việc quyết toán đối với quỹ này là chưa phù hợp với tính chất quan trọng của quỹ BHXH.

l) Về các hành vi bị nghiêm cấm

Điều 17 Luật BHXH năm 2014 quy định 8 hành vi bị nghiêm cấm đã tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về BHXH, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động.

Mẫu thông báo tổ chức cưỡng chế vi phạm hành chính
Cưỡng chế vi phạm hành chính lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Tuy nhiên, qua tổng kết thực hiện Luật BHXH năm 2014, một số hành vi, thủ đoạn của cá nhân, tổ chức làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích của người lao động và thân nhân, tới tính nghiêm minh của pháp luật cũng như chủ trương bảo đảm an sinh xã hội bền vững nhưng chưa được quy định trong Luật như: Hành vi mua, bán, cầm cố sổ BHXH hoặc quá trình tham gia BHXH dưới mọi hình thức; Hành vi cộng tác, bao che, giúp sức cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, hoặc cản trở người khác thực hiện nghĩa vụ đóng, không thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về BHXH…

2.2. VỀ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ BHXH; QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG, NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VÀ CƠ QUAN BHXH

b) Về quyền và trách nhiệm của người lao động

– Khoản 7 Điều 18 Luật BHXH năm 2014 quy định định kỳ 6 tháng người lao động được người sử dụng lao động cung cấp thông tin về đóng BHXH; định kỳ hằng năm được cơ quan BHXH xác nhận về việc đóng BHXH. Tuy nhiên, cùng với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý BHXH (VssID,…) thì những nội dung này cũng cần được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh mới và điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin.

Bên cạnh đó, với xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng sâu rộng, việc sử dụng hoàn toàn sổ BHXH bằng giấy như hiện nay sẽ không còn phù hợp do đó, cần rà soát nội dung về quyền quản lý sổ BHXH của người lao động và trách nhiệm phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH cho người lao động cho phù hợp với bối cảnh mới.

– Việc quy định hình thức chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH trong nội dung quyền của người lao động là chưa phù hợp.

– Theo quy định của Luật BHXH năm 2014, hằng tháng người sử dụng lao động trích từ tiền lương của người lao động theo quy định của pháp luật để đóng cùng lúc vào quỹ BHXH, nhưng lại không quy định trách nhiệm theo dõi, giám sát việc người sử dụng lao động tham gia BHXH cho mình, do đó, trong thời gian vừa qua xảy ra một số trường hợp người sử dụng lao động không trích tiền lương của người lao động để đóng BHXH hoặc đã trích tiền lương nhưng không đóng BHXH cho họ.  Dự thảo Luật sửa đổi cần cân nhắc bổ sung trách nhiệm của người lao động đối với việc theo dõi, yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ trách nhiệm về BHXH đối với người lao động. Đây là nội dung thể hiện vai trò chủ động của người lao động đối với việc tham gia BHXH cho bản thân, cũng như giám sát việc chấp hành pháp luật của người sử dụng lao động về BHXH nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động.

c) Về quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động

– Điều 88 Luật BHXH năm 2014 đã quy định các trường hợp tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất khi người sử dụng lao động gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh dẫn đến việc không có khả năng đóng BHXH, tuy nhiên trong quyền của người sử dụng lao động lại chưa đề cập đến nội dung này.

– Tương tự như quy định về quyền và trách nhiệm của người lao động, với xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng sâu rộng, việc sử dụng hoàn toàn sổ BHXH bằng giấy như hiện nay sẽ không còn phù hợp do đó, cần rà soát nội dung về trả sổ BHXH của người lao động và trách nhiệm niêm yết công khai thông tin về đóng BHXH cho người lao động cho phù hợp với bối cảnh mới

d) Về quyền và trách nhiệm của cơ quan BHXH

– Việc quy định quyền tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản của cơ quan BHXH theo quy định của pháp luật trong Luật BHXH năm 2014 là không  phù hợp vì các nội dung này đã được quy định cụ thể trong pháp luật chuyên ngành về cơ quan thuộc Chính phủ, do đó không cần nhắc lại trong Luật BHXH năm 2014.

– Theo quy định của Luật BHXH năm 2014, cơ quan BHXH có trách nhiệm tổ chức thu, chi, tiếp nhận hồ sơ và giải quyết các chế độ BHXH, do đó, cơ quan BHXH là đơn vị có nhiều thông tin về các hành vi vi phạm pháp luật của người sử dụng lao động, tuy nhiên, trong Luật BHXH năm 2014 chỉ giao cho công đoàn quyền khởi kiện ra Tòa án đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH của người sử dụng lao động mà không giao cho cơ quan BHXH.

– Khoản 3 Điều 23 Luật BHXH năm 2014 quy định cơ quan BHXH có trách nhiệm: “Tổ chức thực hiện thu, chi BHXH theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, Luật BHXH năm 2014 chưa quy định cụ thể về quy trình quản lý thu, nộp BHXH như: quản lý, phân loại đối tượng đóng, số tiền chậm đóng; cách xác định số tiền lãi chậm đóng; quy trình, cách thức tổ chức thu hồi đối với các doanh nghiệp trốn đóng, chậm đóng BHXH.

– Với xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng sâu rộng, cần rà soát nội dung về trả sổ và quản lý sổ BHXH của người lao động cũng như cách thức, thời hạn xác nhận thời gian đóng BHXH cho từng người lao động; thời hạn, cách thức cung cấp thông tin về việc đóng BHXH cho người lao động cho phù hợp với bối cảnh mới.

– Luật BHXH năm 2014 chưa quy định trách nhiệm xác định đối tượng tham gia và thuộc diện tham gia BHXH của cơ quan BHXH.

2.3. VỀ BHXH BẮT BUỘC (CHƯƠNG III)

a) Chế độ ốm đau

– Khoản 2 Điều 26 Luật BHXH năm 2014 về chế độ ốm đau đối với người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày đã quy định giới hạn thời gian hưởng chế độ ốm đau sau khi hết 180 ngày đầu tiên tối đa bằng thời gian đã đóng BHXH là tiến bộ hơn so với Luật BHXH năm 2006. Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa triệt để trong trường hợp cố tình trục lợi bằng cách: Sau khi hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau, người lao động đi làm lại 1-2 tháng rồi lại đề nghị hưởng thì tổng thời gian hưởng của lần sau còn cao hơn lần trước.

– Thuật ngữ “bị ốm đau” quy định tại Khoản 1 Điều 25 Luật BHXH năm 2014 chưa rõ ràng và chưa phù hợp với các quy định về khám chữa bệnh hiện nay.

– Điều 29 Luật BHXH năm 2014 quy định mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau tính theo mức lương cơ sở. Trong thời gian tới khi bãi bỏ mức lương cơ sở theo chủ trương cải cách tiền lương của Trung ương (Nghị quyết số 27-NQ/TW), cần nghiên cứu, sửa đổi quy định này.

– Theo phản ánh của cơ quan bảo hiểm xã hội, nhiều trường hợp người lao động được hưởng chế độ ốm đau ngay tháng đầu tiên thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không đóng vào quỹ do nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày trở lên. Do đó, cần cân nhắc quy định các đối tượng này người sử dụng lao động vẫn phải đóng vào quỹ ốm đau, thai sản để đảm bảo nguyên tắc đóng – hưởng và đảm bảo công bằng giữa các nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.

– Luật BHXH năm 2014 chưa quy định rõ điều khoản về các trường hợp người lao động không được giải quyết chế độ ốm đau như nghỉ việc điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trong thời gian đang nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương, ngừng việc theo quy định của pháp luật lao động.

– Luật BHXH năm 2014 chưa quy định mức hưởng chế độ ốm đau nửa ngày trong khi theo phản ánh của người sử dụng lao động, do điều kiện khách quan nhiều trường hợp người lao động phải nghỉ việc để khám, chữa bệnh nửa ngày nhưng không được hưởng chế độ ốm đau do Luật chưa có quy định về mức hưởng chế độ ốm đau nửa ngày.

– Trong thực tế, nhiều trường hợp người lao động phải nghỉ việc để khám bệnh, chữa bệnh ở nước ngoài đặc biệt trong bối cảnh hiện nay đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cả người lao động là công dân nước ngoài làm việc ở Việt Nam, tuy nhiên Luật BHXH năm 2014 chưa quy định về hồ sơ thủ tục trong trường hợp này.

b) Chế độ thai sản

– Tương tự như chế độ ốm đau, mức hưởng trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi (quy định tại Điều 38) và mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản (quy định tại Điều 41) tính theo mức lương cơ sở sẽ không còn phù hợp trong thời gian tới khi bãi bỏ mức lương cơ sở theo chủ trương cải cách tiền lương của Trung ương (Nghị quyết số 27-NQ/TW).

– Luật BHXH chưa quy định rõ điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi đối với trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH (Điều 38).

– Điểm a khoản 1 Điều 40 của Luật BHXH quy định điều kiện lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con: “Sau khi đã nghỉ hưởng chế độ ít nhất được 04 tháng” áp dụng đối với cả trường hợp sau khi sinh con mà con chết là chưa phù hợp với thực tiễn.

– Quy định giữa khoản 1 Điều 41 của Luật BHXH: “…được dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 5 đến 10 ngày” và khoản 2 Điều 41: “Tối đa 5 ngày đối với các trường hợp khác” là chưa thống nhất.

– Một số thuật ngữ được quy định trong chế độ thai sản Luật BHXH năm 2014 chưa phù hợp với thuật ngữ hiện tại dùng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

– Quy định về tuần tuổi phá thai, nạo, hút thai được hưởng chế độ thai sản (Điều 33) chưa phù hợp với quy định pháp luật về xác định tuổi thai.

– Một số quy định tại Nghị định số 115/2015/NĐ-CP về chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ đã được triển khai trong thực tiễn được kiểm chứng có tính ổn định cần được cân nhắc đưa vào quy định trong Luật BHXH, như vậy điều 35 quy định về chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ có thể tách thành 02 điều riêng lẻ để quy định được rõ ràng, dễ hiểu.

– Một số Bộ, ngành, cơ quan có liên quan phản ánh việc quy định lao động nam nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con là chưa phù hợp với thực tiễn của một số ngành nghề như quân đội, công an, người đang công tác, làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

– Luật BHXH năm 2014 chưa quy định hồ sơ thủ tục đối với trường hợp người lao động khám thai, thực hiện các biện pháp đình chỉ thai nghén, sinh con, nhận nuôi con nuôi ở nước ngoài.

Nghị định 28/2020/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm
Vi phạm pháp luật về nuôi con nuôi

– Luật BHXH năm 2014 quy định hồ sơ, thủ tục hành chính đối với chế độ thai sản của người lao động tham gia BHXH bắt buộc trong chương chung về hồ sơ, thủ tục. Điều này chưa phù hợp và gây khó khăn cho người tham gia BHXH, trong thực tiễn Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã nhận được ý kiến phản ánh của nhiều người lao động tham gia BHXH bắt buộc đối với vấn đề này thông qua những tọa đàm, hội nghị tuyên truyền về chính sách BHXH bắt buộc.

c) Chế độ hưu trí

– Việc điều chỉnh lương hưu trong giai đoạn 2016 – 2021 về cơ bản gắn với điều chỉnh mức lương cơ sở; mặc dù mức điều chỉnh đã góp phần ổn định cuộc sống người nghỉ hưu, hưởng BHXH hằng tháng; tuy nhiên điều này chưa thực sự phù hợp với quy định tại Điều 57 Luật BHXH và quan điểm, chủ trương của Đảng là điều chỉnh lương hưu độc lập với điều chỉnh lương của người đang làm việc. Thời điểm điều chỉnh lương hưu thường trùng với thời điểm điều chỉnh mức lương cơ sở vào giữa năm (tháng 7) thay vì điều chỉnh vào đầu năm là chưa trùng với thời điểm điều chỉnh mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH khi tính lương hưu làm tiềm ẩn nguy cơ chênh lệch lương hưu giữa một số nhóm đối tượng, nhất là giữa những người hưởng lương theo chế độ tiền lương Nhà nước quy định[1].

– Khoản 2 Điều 56 Luật BHXH năm 2014 quy định thay đổi cách tính lương hưu đối với lao động nữ từ năm 2018 so với Luật BHXH năm 2006 nhưng không quy định theo lộ trình; điều này có thể dẫn đến chênh lệch lương hưu giữa những lao động nữ nghỉ hưu trước và sau thời điểm ngày 01 tháng 01 năm 2018. Do đó, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 64/2018/QH14 ngày 15 tháng 6 năm 2018, trong đó “giao Chính phủ ban hành quy định thực hiện chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đến ngày 31 tháng 12 năm 2021 bị tác động bất lợi hơn so với lao động nam do thay đổi cách tính lương hưu”. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành nghị định số 153/2015/NĐ-CP quy định chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021 có thời gian đóng BHXH từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng để cụ thể hóa Nghị quyết số 64/2018/QH14 ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Quốc hội trong việc khắc phục bất hợp lý của Điều 56 Luật BHXH năm 2014.

– Mức hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu (Điều 58) cho mỗi năm đóng BHXH (sau số năm mà người lao động được tính hưởng theo tỷ lệ 75%) là 0,5 lần mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH là chưa phù hợp, không mang tính chất khuyến khích người lao động đóng BHXH trong thời gian dài.

– Quy định về mức lương hưu hằng tháng thấp nhất (khoản 5 Điều 56) và điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH đối với người lao động có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định (khoản 1 Điều 63) dựa trên mức lương cơ sở sẽ không còn phù hợp trong thời gian tới khi bãi bỏ mức lương cơ sở theo chủ trương cải cách tiền lương của Trung ương (Nghị quyết số 27-NQ/TW).

– Điều kiện 20 năm đóng BHXH để được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng là khá dài không phù hợp với khả năng tạo và duy trì việc làm của nền kinh tế cho người lao động. Điều kiện để hưởng chế độ hưu trí này cùng với hoàn cảnh kinh tế khó khăn đã khiến nhiều người lao động – phải quan tâm đến những nhu cầu trước mắt – nản lòng trong quá trình theo đuổi đóng góp cho hệ thống BHXH để được hưởng hưu trí trong tương lai khi về già.

– Chưa quy định việc xác định thời gian đóng BHXH đối với trường hợp người lao động đóng BHXH theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia;

– Chưa có căn cứ (công thức) chi trả lương hưu cho người lao động đóng BHXH tại Việt Nam (vào quỹ BHXH của Việt Nam) trong trường hợp người lao động đóng BHXH theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia mà thời gian đóng BHXH tại Việt Nam ngắn hơn thời gian đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu theo quy định của Việt Nam;

– Số người hưởng BHXH một lần còn cao, ảnh hưởng tới việc mở rộng độ bao phủ số người nhận lương hưu hằng tháng trong tương lai.

[1] Ví dụ, người lao động A và người lao động B có thời gian đóng BHXH, diễn biến tiền lương trong khu vực Nhà nước giống hệt nhau; lao động A về hưu tháng 5/2017 có lương hưu là 5 triệu đồng; lao động B về hưu tháng 7/2017 cũng có mức lương hưu là 5 triệu đồng. Tuy nhiên, từ tháng 7/2017, lao động A lại được điều chỉnh lương hưu theo Nghị định số 76/2017/NĐ-CP thêm 7,44% dẫn đến lương hưu của lao động A cao hơn lương hưu của lao động B.

– Tính đến cuối 2020, Việt Nam có khoảng 14,1 triệu người sau độ tuổi nghỉ hưu (từ 55 tuổi trở lên đối với nữ; từ 60 tuổi trở lên đối với nam). Trong số đó, chỉ có khoảng trên 3,1 triệu người đang được hưởng lương hưu, BHXH hằng tháng[1] (chiếm 22,1%) tổng số người sau độ tuổi nghỉ hưu. Nếu tính cả những người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội (1,8 triệu người) thì tổng cộng có khoảng gần 5 triệu người (chiếm 35%) được hưởng các khoản trợ cấp hàng tháng. Như vậy, cho đến nay vẫn còn khoảng 9,2 triệu người sau độ tuổi nghỉ hưu (chiếm 65%) chưa thuộc diện bao phủ của hệ thống BHXH hoặc tầng an sinh xã hội nào khác. Trong khi đó, mục tiêu Nghị quyết số 28-NQ/TW đặt ra là đến năm 2021 có khoảng 45% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu sẽ là một thách thức rất lớn.

– Trong bối cảnh đề nghị giảm điều kiện về thời gian đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm và quy định thêm một số đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc có tiền lương làm căn cứ đóng BHXH thấp hơn lương tối thiểu vùng thì việc quy định lương hưu thấp nhất bằng lương cơ sở là không còn phù hợp. Bên cạnh đó, Luật BHXH năm 2014 chí quy định về lương hưu thấp nhất đối với người tham gia BHXH bắt buộc mà không có lương hưu thấp nhất đối với người tham gia BHXH tự nguyện là chưa đảm bảo tính công bằng giữa hai chính sách.

– Luật BHXH năm 2014 chưa có quy định công nhận thời gian tham gia BHXH ở nước ngoài của người lao động Việt Nam là thời gian tham gia BHXH để xem xét tính điều kiện hưởng chế độ BHXH;

– Luật BHXH năm 2014 quy định người lao động đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần được tính theo mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng của những năm cuối, tuy nhiên trong thực tế có một số trường hợp người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã có mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của những năm cuối thấp hơn so với thời gian trước đó, dẫn đến mức lương hưu thấp gây thiệt thòi cho ngươi lao động;

– Hiện nay, Chính phủ đang nghiên cứu cải cách tiền lương theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW do đó các quy định về mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần cần tính đến các giải pháp khắc phụ vấn đề bất hợp lý trong lương hưu khi chính sách tiền lương sau cải cách làm tăng đột biến tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của những năm cuối;

– Luật BHXH năm 2014 chưa quy định các trường hợp chấm dứt hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng;

– Luật BHXH năm 2014 quy định hồ sơ, thủ tục hành chính đối với chế độ hưu trí của người lao động tham gia BHXH bắt buộc trong chương chung về hồ sơ, thủ tục và gộp chung hồ sơ thủ tục của người tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Điều này chưa phù hợp và gây khó khăn cho người tham gia BHXH, trong thực tiễn Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã nhận được ý kiến phản ánh của nhiều người lao động tham gia BHXH bắt buộc đối với vấn đề này thông qua những tọa đàm, hội nghị tuyên truyền về chính sách BHXH bắt buộc.

d) Chế độ tử tuất

– Quy định tại Điều 69 của Luật BHXH năm 2014 dẫn chiếu theo khoản 1 và khoản 3 Điều 66 đã bỏ sót trường hợp có thời gian đóng BHXH dưới 12 tháng.

– Điều kiện về tuổi của thân nhân người lao động (vợ/chồng/bố/mẹ) hưởng trợ cấp tuất hàng tháng không còn phù hợp với quy định về tuổi nghỉ hưu tại Bộ luật Lao động năm 2019.

Những bất cập của Bộ luật Lao động 2019
Những bất cập của Bộ luật Lao động 2019

– Quy định về trợ cấp mai táng (khoản 2 Điều 66), thu nhập của thân nhân đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng (khoản 3 Điều 67), mức trợ cấp tuất hằng tháng (khoản 1 Điều 68), mức trợ cấp tuất một lần (khoản 3 Điều 70) và mức lương hưu hằng tháng thấp nhất đối với người vừa có thời gian tham gia BHXH bắt buộc, vừa có thời gian tham gia BHXH tự nguyện (khoản 1 Điều 71) dựa trên mức lương cơ sở là có thể không hợp lý trong thời gian tới khi bãi bỏ mức lương cơ sở theo chủ trương cải cách tiền lương của Trung ương (Nghị quyết số 27-NQ/TW).

– Luật BHXH năm 2014 quy định thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng mà có nguyện vọng hưởng trợ cấp tuất một lần được chuyển sang hưởng trợ cấp tuất một lần tuy nhiên quy định loại trừ trường hợp con dưới 06 tuổi và con hoặc vợ hoặc chồng bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. Quy định này được đặt ra nhằm đảm bảo những đối tượng không còn hoặc chưa có khả năng lao động tự lo cuộc sống cho bản thân có khoản trợ cấp tuất hàng tháng. Tuy nhiên, trong thực tiễn nhiều trường hợp tổng số tiền trợ cấp hàng tháng mà những đối tượng này nhận được thấp hơn rất nhiều số tiền hưởng trợ cấp tuất một lần, do đó cần cân nhắc quy định cho phù hợp với thực tiễn.

– Luật BHXH năm 2014 quy định hồ sơ, thủ tục hành chính đối với chế độ tử tuất của người lao động tham gia BHXH bắt buộc trong chương chung về hồ sơ, thủ tục và gộp chung hồ sơ thủ tục của người tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Điều này chưa phù hợp và gây khó khăn cho người tham gia BHXH, trong thực tiễn Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã nhận được ý kiến phản ánh của nhiều người lao động tham gia BHXH bắt buộc đối với vấn đề này thông qua những tọa đàm, hội nghị tuyên truyền về chính sách BHXH bắt buộc.

2.4 VỀ BHXH TỰ NGUYỆN (CHƯƠNG IV)

a) Chế độ hưu trí

– Một số quy định về BHXH tự nguyện nhưng sử dụng thuật ngữ chung là BHXH (không phân định rõ BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc) gây khó khăn trong tổ chức thực hiện.

– Thời gian qua, nhờ sự nỗ lực của cơ quan bảo hiểm xã hội và các tổ chức dịch vụ được cơ quan BHXH ủy quyền thu BHXH tự nguyện, số người tham gia BHXH tự nguyện có sự gia tăng lớn tuy nhiên vẫn được nhiều Bộ, ngành, cơ quan có liên quan đánh giá chưa đủ tính hấp dẫn do chưa có các chế độ ngắn hạn như chính sách BHXH bắt buộc.

– Tương tự như chính sách BHXH bắt buộc, nhiều người lao động phản ánh việc quy định phải đóng đủ BHXH từ 20 năm trở lên mới đủ điều kiện hưởng lương hưu là quá dài, khiến nhiều người lao động không đủ động lực để tham gia BHXH tự nguyện.

b) Chế độ tử tuất

– Một số quy định về BHXH tự nguyện nhưng sử dụng thuật ngữ chung là BHXH (không phân định rõ BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc) gây khó khăn trong tổ chức thực hiện.

– Quy định về trợ cấp mai táng dựa trên mức lương cơ sở sẽ không còn phù hợp trong thời gian tới khi bãi bỏ mức lương cơ sở theo chủ trương cải cách tiền lương của Trung ương (Nghị quyết số 27-NQ/TW).

– Theo quy định của Luật BHXH năm 2014 thì người lao động đang tham gia BHXH và người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH mà có thời gian đóng dưới 60 tháng thì không đủ điều kiện hưởng trợ cấp mai táng phí, điều này hoàn toàn đảm bảo nguyên tắc đóng hưởng trong BHXH, tuy nhiên mức trợ cấp tuất một lần mà thân nhân người lao động nhận được ít hơn số tiền người lao động đã đóng vào quỹ BHXH. Vấn đề này đã được một số Bộ, ngành, địa phương phản ánh đã xảy ra trong thực tế và gây tâm lý không tốt cho thân nhân người lao động.

– Luật BHXH năm 2014 chưa quy định hình thức chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH tự nguyện mà chỉ lồng ghép trong nội dung và quyền của người lao động là chưa rõ ràng.

– Luật BHXH năm 2014 quy định hồ sơ, thủ tục hành chính đối với chế độ tử tuất của người lao động tham gia BHXH tự nguyện trong chương chung về hồ sơ, thủ tục và gộp chung hồ sơ thủ tục của người tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Điều này chưa phù hợp và gây khó khăn cho người tham gia BHXH, trong thực tiễn Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã nhận được ý kiến phản ánh của nhiều người lao động tham gia BHXH tự nguyện đối với vấn đề này thông qua những tọa đàm, hội nghị tuyên truyền về chính sách BHXH tự nguyện.

2.5. Tình hình chậm đóng, trốn đóng BHXH

Theo số liệu thống kê của cơ quan BHXH, số tiền chậm đóng BHXH tăng dần qua các năm, trong đó, số tiền chậm đóng BHXH từ 3 năm trở lên chiếm trên 34% tổng số chậm đóng, trốn đóng BHXH. Số tiền chậm đóng BHXH khó thu xu hướng ngày càng tăng, năm 2020 là 2.564 tỷ đồng, chiếm 22 % tổng số chậm đóng BHXH, gấp 1,6 lần so với năm 2016 tương ứng tăng 1.000 tỷ, số đơn vị là là 9.263 đơn vị; số lao động bị ảnh hưởng là trên 62.654 lao động.

Với số chậm đóng BHXH kéo dài, khó có khả năng thu hồi cùng với việc không có cơ sở dữ liệu theo dõi số tiền chậm đóng BHXH đối với từng người lao động ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động bị chủ sử dụng lao động chậm đóng, trốn đóng BHXH.

Xuất phát từ những lý do, yêu cầu nêu trên, việc đề xuất sửa đổi Luật BHXH năm 2014 là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

Phần 2: Những nội dung mới của Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024

So với Luật BHXH 2014, Luật BHXH (sửa đổi) năm 2024 có nhiều thay đổi hướng tới các mục tiêu lớn như: Mở rộng đối tượng tham gia; gia tăng quyền, lợi ích trong thụ hưởng chính sách để thu hút NLĐ tham gia BHXH, bảo đảm an sinh xã hội lâu dài đối với người dân; sửa đổi căn bản các vướng mắc, bất cập từ thực tiễn triển khai thực hiện Luật BHXH 2014; tăng cường chế tài xử lý hành vi chậm đóng, trốn đóng BHXH.

Theo Luật BHXH (sửa đổi), về quy định chế độ trợ cấp hưu trí xã hội do NSNN bảo đảm trên cơ sở kế thừa và phát triển một phần từ quy định về trợ cấp xã hội hằng tháng đối với người cao tuổi (Điều 21 đến Điều 24). Cụ thể: Công dân Việt Nam được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ đủ 75 tuổi trở lên; không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp BHXH hằng tháng, trừ trường hợp khác theo quy định của Chính phủ; có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Công dân Việt Nam từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và đáp ứng đủ điều kiện trên thì được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Mức trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng do Chính phủ quy định phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và khả năng của NSNN từng thời kỳ. Định kỳ 3 năm, Chính phủ thực hiện rà soát, xem xét việc điều chỉnh mức trợ cấp hưu trí xã hội. Tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội, khả năng cân đối ngân sách, huy động các nguồn lực xã hội, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định hỗ trợ thêm cho người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Thứ hai, thể hiện liên kết tầng trong hệ thống BHXH bằng việc quy định chế độ trợ cấp hằng tháng cho thời gian trước khi đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Trong thời gian hưởng trợ cấp này, được hưởng BHYT do NSNN đóng.

Thứ ba, mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với chủ hộ kinh doanh tham gia theo quy định của Chính phủ; người quản lý DN, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của DN tại công ty và công ty mẹ theo quy định của Luật DN; thành viên Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban Kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của HTX, liên hiệp HTX theo quy định của Luật HTX không hưởng tiền lương; NLĐ làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất; trường hợp NLĐ và người SDLĐ thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên…

Bên cạnh đó, nhằm từng bước hướng tới chính sách BHXH bắt buộc đối với toàn bộ NLĐ có việc làm, có thu nhập và tiền lương khi có đủ điều kiện cần thiết theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, Luật quy định giao Ủy ban TVQH quyết định việc tham gia BHXH bắt buộc đối với đối tượng khác mà có việc làm, thu nhập ổn định, thường xuyên trên cơ sở đề xuất của Chính phủ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội từng thời kỳ. Việc bổ sung quy định trên đảm bảo phù hợp với những quy định của Bộ luật Lao động 2019; đồng thời đảm bảo gia tăng quyền lợi khi các nhóm đối tượng tham gia, góp phần gia tăng diện bao phủ của BHXH.

Thứ tư, mở rộng quyền lợi cho người tham gia BHXH như: Giảm điều kiện về số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng lương hưu hằng tháng; người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản.

Luật BHXH (sửa đổi) quy định NLĐ khi đủ tuổi nghỉ hưu mà có thời gian đóng BHXH từ đủ 15 năm trở lên được hưởng lương hưu hằng tháng. Quy định này nhằm tạo cơ hội cho những người tham gia muộn hoặc tham gia không liên tục có cơ hội tích lũy đủ 15 năm đóng (thay vì 20 năm như quy định hiện hành) để hưởng lương hưu hằng tháng thay vì phải nhận BHXH một lần. Quy định về số năm đóng tối thiểu này không áp dụng với người hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động.

Đồng thời, quy định tỷ lệ hưởng lương hưu đối với lao động nam và lao động nữ có 15 năm đóng BHXH, quy định mức tối đa là 75%; quy định việc tính mức lương hưu hằng tháng của NLĐ đủ điều kiện hưởng lương hưu mà có thời gian đóng BHXH theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên nhưng có thời gian đóng BHXH ở Việt Nam dưới 15 năm thì mỗi năm đóng trong thời gian này được tính bằng 2,25%.

Với mức lương hưu hằng tháng ổn định, định kỳ được Nhà nước điều chỉnh mức hưởng và trong thời gian hưởng lương hưu được quỹ BHXH mua thẻ BHYT, thì sẽ góp phần đảm bảo tốt hơn cuộc sống của NLĐ, sẽ có thêm nhiều người được đảm bảo lương hưu và được hưởng BHYT khi về già.

Thứ năm, dành riêng một chương để quy định quản lý thu, đóng BHXH; làm rõ nội hàm và việc xử lý hành vi chậm đóng và hành vi trốn đóng BHXH.

Vấn đề chậm đóng, trốn đóng BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của NLĐ, nên Luật BHXH (sửa đổi) đã bổ sung quy định xử lý tình trạng này. Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan trong xác định và quản lý đối tượng thuộc diện tham gia BHXH; sửa đổi, bổ sung nhiều biện pháp xử lý, chế tài xử lý tình trạng chậm đóng, trốn đóng BHXH như: Quy định cụ thể biện pháp xử lý đối với hành vi chậm đóng BHXH và trốn đóng BHXH; bắt buộc đóng đủ số tiền BHXH chậm đóng, trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền BHXH, BH thất nghiệp chậm đóng, trốn đóng và số ngày chậm đóng, trốn đóng; xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; không xem xét trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng. Riêng đối với hành vi trốn đóng còn có biện pháp mạnh là truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, để đảm bảo quyền lợi của NLĐ, Luật đã bổ sung trách nhiệm của người SDLĐ phải bồi thường cho NLĐ nếu không tham gia hoặc tham gia BHXH bắt buộc không đầy đủ, không kịp thời, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ. Các quy định này nhằm bảo đảm hơn nữa quyền lợi chính đáng, hợp pháp của NLĐ, góp phần giảm tình trạng chậm đóng, trốn đóng BHXH.

Thứ sáu, quy định cụ thể về “mức tham chiếu” thay cho “mức lương cơ sở”.

Thứ bảy, quy định cụ thể hơn về đầu tư và quản lý quỹ BHXH; việc duyệt, thẩm định, phê chuẩn quyết toán chi tổ chức và hoạt động BHXH.

Thứ tám, đơn giản hóa TTHC về BHXH, giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH và về đánh giá sự hài lòng của người dân đối với việc tổ chức thực hiện chính sách, chế độ BHXH.

Thứ chín, bổ sung quy định về hợp tác quốc tế và quy định rõ hơn trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Tài chính.

Cùng với đó, Luật BHXH (sửa đổi) cũng bổ sung chế độ thai sản vào chính sách BHXH tự nguyện. Theo đó, Luật quy định NLĐ tham gia BHXH tự nguyện (bao gồm cả lao động nữ và lao động nam) khi sinh con nếu đáp ứng đủ điều kiện (đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con) thì được hưởng trợ cấp bằng 2 triệu đồng cho mỗi con được sinh ra; hoặc mỗi thai từ 22 tuần tuổi trở lên chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ. Kinh phí thực hiện trợ cấp này do NSNN bảo đảm và Chính phủ quyết định điều chỉnh mức trợ cấp thai sản phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và khả năng của NSNN từng thời kỳ.

Đồng thời, sửa đổi quy định hưởng BHXH một lần theo hướng gia tăng quyền lợi, tăng tính hấp dẫn, khuyến khích NLĐ bảo lưu thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu thay vì nhận BHXH một lần như: Điều kiện hưởng lương hưu dễ dàng hơn (giảm thời gian đóng BHXH tối thiểu từ 20 năm xuống 15 năm); được hưởng trợ cấp hằng tháng và được NSNN đóng BHYT trong trường hợp có thời gian đóng BHXH không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội; tăng mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu bằng 2 tháng lương bình quân đóng BHXH (hiện nay là 0,5 tháng) cho mỗi năm đóng BHXH sau độ tuổi nghỉ hưu cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%.

Quy định cụ thể để thể chế hoá nội dung tại Nghị quyết về việc hưởng BHXH một lần là đối với NLĐ có thời gian đóng BHXH trước ngày Luật BHXH (sửa đổi) có hiệu lực thi hành, sau 12 tháng không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, không tham gia BHXH tự nguyện và có thời gian đóng BHXH chưa đủ 20 năm, có nhu cầu thì được nhận BHXH một lần. Như vậy, đối với nhóm NLĐ bắt đầu tham gia BHXH từ khi Luật BHXH (sửa đổi) có hiệu lực trở đi (từ 1/7/2025) sẽ không được nhận BHXH một lần theo điều kiện này (chỉ giải quyết hưởng BHXH một lần trong các trường hợp: Đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đủ năm đóng BHXH để hưởng lương hưu hoặc ra nước ngoài để định cư hoặc đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS hoặc người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng).

 decuongtuyentruyen.com sẽ tiếp tục cập nhật những nội dung mới của Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024

Giới thiệu Đề cương Tuyên truyền

Đề cương tuyên truyền pháp luật (trang web thành viên của https://trangtinphapluat.com): Nơi cung cấp các đề cương tuyên truyền, nghiệp vụ tuyên truyền pháp luật Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *