Đề cương tuyên truyền Luật Đất đai năm 2024

Decuongtuyentruyen.com giới thiệu tới  bạn đọc Đề cương tuyên truyền Luật Đất đai năm 2024, gồm 02 phần: Phần 1. Sự cần thiết ban hành Luật Đất đai năm 2024. Phần 2: Những nội dung mới của Luật đất đai năm 2024

Tài liệu được biên soạn dựa vào Báo cáo Đánh giá tình hình thi hành Luật Đất đai 2013 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Đất đai sửa đổi, các hồ sơ trong dự án Luật Đất đai

Phần 1. Sự cần thiết ban hành Luật Đất đai năm 2024

  1. Cơ sở thực tiễn

Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014. Đây là một trong những đạo luật quan trọng, thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội. Luật Đất đai năm 2013 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã tạo thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh, thể hiện những quan điểm đổi mới của Đảng phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Luật và các văn bản dưới Luật đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được bảo đảm và phát huy. Chính sách, pháp luật đất đai đã tạo ra hành lang pháp lý đồng bộ, chặt chẽ và khả thi cho việc khai thác nguồn lực và sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả đất đai, phát triển các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, nhà ở đô thị; tạo điều kiện cho đất đai tham gia vào thị trường bất động sản; tăng đáng kể nguồn thu cho ngân sách, đóng góp tích cực cho việc phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước.

Đề cương tuyên truyền Luật Đất đai năm 2024
Đề cương tuyên truyền Luật Đất đai năm 2024

Tuy nhiên, nhìn chung, đất đai vẫn chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội, còn tình trạng sử dụng tùy tiện, thiếu hiệu quả, lãng phí. Một số tồn tại, hạn chế chủ yếu trong quản lý, sử dụng đất đai thể hiện cụ thể ở các mặt sau đây:

1.1. Về tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật điều chỉnh quan hệ có liên quan đến đất đai

Còn tình trạng chưa thống nhất, chưa đồng bộ về phạm vi điều chỉnh và nội dung giữa các luật như: pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng, pháp luật về nhà ở, pháp luật về quản lý tài sản công, pháp luật về lâm nghiệp… với pháp luật về đất đai dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện. Kết quả rà soát cho thấy, có 22 trong tổng số 112 Luật có nội dung vướng mắc, chồng chéo với Luật Đất đai 2013. (chi tiết tại phụ lục Báo cáo rà soát Luật Đất đai với các luật có liên quan kèm theo Báo cáo này).

1.2. Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa bảo đảm tính tổng thể, hệ thống và đồng bộ[1]. Chất lượng quy hoạch chưa cao, chưa có tầm nhìn dài hạn[2], chưa bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường; chưa theo hướng tiếp cận quy hoạch không gian, dựa vào hệ sinh thái[3].

Tiến độ lập quy hoạch tại các địa phương còn chậm; thiếu sự gắn kết với quy hoạch ngành, lĩnh vực. Thiếu các giải pháp có tính khả thi để thực hiện quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là không cân đối đủ nguồn vốn đầu tư do nhu cầu vốn đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật là rất lớn trong khi ngân sách của các địa phương có hạn; công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất mất nhiều thời gian nên ảnh hưởng nhiều đến tiến độ thực hiện dự án đã được phê duyệt trong quy hoạch.

[1] Theo quy định của Luật Quy hoạch và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch thì trong hệ thống quy hoạch quốc gia chỉ có quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh thì tích hợp vào quy hoạch tỉnh; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện thì thực hiện trên bản đồ tỷ lệ nhỏ, không đủ chi tiết đến từng thửa đất.

[2] Công tác dự báo chưa tính hết sự biến động của thị trường quyền sử dụng đất, năng lực, khả năng thực hiện của các chủ đầu tư.

[3] Quy định về việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mới chỉ phản ánh diện tích đất đai dựa trên nhu cầu sử dụng của các ngành và các địa phương theo chỉ tiêu diện tích đất, chưa quy định theo hướng dẫn phân vùng để bảo đảm đồng bộ với các quy hoạch khác.

Việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch của một số địa phương chưa nghiêm, dẫn đến tình trạng sử dụng đất không theo quy hoạch còn phổ biến, gây lãng phí lớn; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về quy hoạch, kế hoạch chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn mang tính hình thức, chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Việc chậm phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 – 2020) của một số tỉnh, thành phố đã ảnh hưởng đên tiến độ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện.

1.3. Về giao đất, cho thuê đất

 Việc giao đất có thu tiền và cho thuê đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất chưa được tổ chức thực hiện triệt để trong thực tiễn[1]; còn lúng túng trong việc tổ chức đấu thầu dự án có sử dụng đất, giao, cho thuê đất có nguồn gốc do cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nông lâm trường, sắp xếp cơ sở nhà đất của cơ quan nhà nước, thực hiện hình thức xây dựng – chuyển giao (dự án BT). Việc thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn. Việc chuyển sang thuê đất đối với các tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính vẫn chưa được triển khai thực hiện đầy đủ.

Báo cáo kiểm toán[2] cho thấy, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất thực hiện các dự án đầu tư tại các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước cho thấy hầu hết các đơn vị đều không triển khai thực hiện dự án gắn với quyền sử dụng đất, mà góp vốn với đối tác bên ngoài, sau đó thoái vốn, hoặc cam kết thoái vốn, chuyển giao quyền sử dụng đất cho đối tác không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất.

Báo cáo kiểm toán cho thấy, công tác giao đất tại nhiều địa phương còn bất cấp, hạn chế, trong đó chủ yếu là giao đất theo hình thức chỉ định, không đấu giá quyền sử dụng đất, ban hành văn bản công nhận chủ đầu tư theo hình thức chỉ định, vi phạm Luật Đấu thầu[3].

Một số dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương đầu tư, giao đất, cho thuê đất nhưng chậm đầu tư, đưa vào sử dụng; có trường hợp được giao đất, cho thuê đất ngoài quy hoạch hoặc không theo quy hoạch sử dụng đất. Việc giao đất, cho thuê đất tại các khu, cụm công nghiệp ở nhiều địa phương vẫn chưa thực hiện đúng theo quy định.

Việc quản lý, sử dụng đất đai của các nông, lâm trường còn vướng mắc.

[1] Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, tổng diện tích thực hiện giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất là 53.844,89 ha thu được 260.964,26 tỷ đồng, thông qua đấu thầu dự án có sử dụng đất là 2.080,25 ha thu được 2.755,89 tỷ đồng, không thông qua đấu giá quyền qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất là 169.094,20 ha thu được 236.576,86 tỷ đồng.

[2]    Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW số 599/BC-KTNN ngày 10/6/2021 của Kiểm toán Nhà nước.

[3]    Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW số 599/BC-KTNN ngày 10/6/2021 của Kiểm toán Nhà nước.

Các doanh nghiệp này đang sử dụng một diện tích lớn đất nông, lâm nghiệp (1,837 triệu ha) nhưng chậm đổi mới theo các chủ trương của Đảng. Tiến độ thực hiện rà soát, sắp xếp, đổi mới về quản lý, sử dụng đất của các nông, lâm trường, chuyển đổi từ hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất và thuê đất còn chậm. Tình trạng tranh chấp, vi phạm pháp luật về đất đai, như lấn chiếm, cho thuê, cho mượn, chuyển mục đích, chuyển nhượng trái pháp luật trong các nông, lâm trường còn xảy ra[1]. Chưa có sự thay đổi căn bản về phương thức hoạt động, cơ chế quản lý và điều hành nông, lâm trường, dẫn đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh rất thấp, quản lý và sử dụng đất đai còn lãng phí và kém hiệu quả.

Công tác quy hoạch, bố trí quỹ đất dành để xây nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp, giải quyết nhu cầu về nhà ở cho công nhân, người lao động ở khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp đã được các địa phương quan tâm, bố trí quỹ đất. Tuy nhiên, tại một số nơi mới chỉ quan tâm đến việc bố trí quỹ đất, chưa quan tâm đến việc kết nối hạ tầng giao thông, bố trí phương tiện công cộng phục vụ nhu cầu di chuyển từ nơi ở đến nơi làm việc của công nhân, người lao động.

          1.4. Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở một số địa phương còn chậm, làm ảnh hưởng đến quyền lợi, đời sống và sinh kế của người có đất bị thu hồi.

Việc thực hiện cơ chế tự thỏa thuận để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn vướng măc[2]. Một số dự án sử dụng đất thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội nhưng địa phương vẫn cho phép chủ đầu tư thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để làm cơ sở lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi quyết định thu hồi đất và quyết định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, sau đó giao đất, cho thuê đất cho chủ đầu tư mà không thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất; một số dự án sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế “ xã hội (khu đô thị, khu dân cư) nhưng địa phương vẫn cho phép chủ đầu tư thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để tổ chức giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định.

[1]Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: (i) về diện tích đất bị lấn chiếm, tổng diện diện tích đất tại 3 Tập đoàn, Tổng công ty (Tập đoàn Cao su, Tổng Công ty Lâm nghiệp, Tổng Công ty Chè) bị lấn chiếm là 19.855,72 ha, trong đó, chưa giải quyết dứt điểm là 18.241,61 ha. (ii) về diện tích đất đai bị chồng lấn, tranh chấp: Tổng diện tích đất tại 3 Tập đoàn kể trên bị chồng lấn, tranh chấp là 2.958,20 ha, trong đó chưa giải quyết dứt điểm là 2.844,49 ha.

[2] Báo cáo tổng kết thi hành Luật Đất đai của 61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay đã có 3.691 dự án với diện tích là 105,86 nghìn ha đất thực hiện theo phương thức thỏa thuận với người sử dụng đất để thực hiện (trong đó có 3.395 dự án đã thỏa thuận được chiếm tỷ lệ 91,98% và 296 dự án không triển khai được dự án do chưa thỏa thuận được hết diện tích đất chiếm tỷ lệ 8a2%), trong đó có 25/61 tỉnh, thành phố không có trường hợp không triển khai được dự án do chưa thỏa thuận được hét diện tích đất, có 11 tỉnh, thành phố còn vướng mắc không triển khai được dự án do chưa thỏa thuận được hết diện tích đất, dao động từ 1,33% đến 8,75 % số hộ chưa thỏa thuận được trên tổng số 12.966 hộ gia đình, cá nhân.

Một số địa phương chưa thực hiện đúng các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như chưa xây dựng khu tái định cư trước khi quyết định thu hồi đất hoặc đã xây dựng nhưng vị trí không thuận lợi, kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ.

1.5. Về tài chính đất đai, giá đất

 Nguồn thu từ đất đai chưa bền vững, chưa thực sự mang tính tổng thể, dài hạn; chính sách tài chính còn chưa khai thác hết tiềm năng nguồn thu từ đất, chưa thực sự khuyến khích sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả, bền vững. Nguồn thu từ đất đai không ngừng tăng lên trong giai đoạn 2013-2020 nhưng chủ yếu là thu từ thị trường sơ cấp[1]. Chưa hình thành được hệ thống thuế tài sản để bảo đảm nguồn thu ổn định, bền vững cho ngân sách Nhà nước[2].

Bảng giá đất tại một số địa phương còn thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Công tác định giá đất cụ thể ở một số nơi chưa kịp thời, chưa có cơ chế, nguồn lực để thu thập đầy đủ các dữ liệu, thông tin giá thị trường phục vụ cho công tác định giá đất, đảm bảo định phù hợp với giá thị trường.

1.6. Về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Ở một số địa phương việc thực hiện quyền của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất chưa thực sự thuận lợi, nhất là trong chuyển đổi mục đích sử dụng đất; các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, còn gặp khó khăn trong tiếp cận đất đai thông qua cơ chế thị trường do phải thực hiện các quy định về đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất.

Thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất phát triển chưa thực sự ổn định, thiếu minh bạch, chưa bền vững, chưa có sự liên thông với thị trường các nhân tố sản xuất khác, chưa thực sự trở thành kênh phân bổ nguồn lực đất đai hợp lý và hiệu quả.

1.7. Về thủ tục hành chính

Việc tổ chức thực hiện các quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai còn hạn chế. Một số địa phương còn có tình trạng tự đặt ra các thủ tục, thời gian giải quyết còn kéo dài so với quy định; vẫn còn có tình trạng cán bộ nhũng nhiễu trong thực thi công vụ, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm.

1.9. Về thanh tra, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai

Tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và vi phạm pháp luật về đất đai còn diễn biến phức tạp, có nơi còn chậm được xử lý, giải quyết. Việc phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai còn hạn chế, chưa tương xứng với số lượng các vi phạm pháp luật về đất đai trên thực tế.

Việc công khai kết quả thanh tra, kiểm tra theo quy định của pháp luật thanh tra ở nhiều địa phương còn hạn chế, nội dung công khai chưa đầy đủ, thống nhất; chế độ thông tin báo cáo của một số địa phương còn chưa nghiêm túc. Các vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai có giảm so với trước đây song vẫn chiếm tỷ lệ cao và còn kéo dài, diễn biến vụ việc phức tạp, khó giải quyết dứt điểm[3].

1.10. Phát sinh trong thực tiễn một số vấn đề có liên quan đến quản lý và sử dụng đất cần giải quyết như: quản lý, sử dụng đất kết hợp đa mục đích; đất nông nghiệp kết hợp với hoạt động thương mại, dịch vụ. đất du lịch có yếu tố tâm linh…

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:

– Đối tượng, phạm vi của các Luật có nội dung điều chỉnh liên quan đến đất đai có sự chồng chéo, thiếu thống nhất trong định hướng, nguyên tắc quản lý gây khó khăn trong triển khai thi hành Luật Đất đai.

– Công tác tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện (đặc biệt là tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được ban hành) của các cơ quan, địa phương chưa thưòng xuyên, từ đó dẫn đến nhận thức và ý thức chấp hành chủ trương chính sách, pháp luật về đất đai của một bộ phận cán bộ công chức, người dân chưa đầy đủ.

– Công tác tổ chức thi hành Luật đất đai chưa được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm đúng mức, chỉ đạo cụ thể, sát sao và thường xuyên. Việc tổ chức thi hành pháp luật tại một số địa phương chưa nghiêm, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách pháp luật đã ban hành; một số chính sách đã được ban hành tuy nhiên còn thiếu điều kiện để áp dụng để đưa các quy định vào cuộc sống như việc khai thác quỹ đất vùng phụ cận các công trình hạ tầng không thực hiện được do thiếu kinh phí…

– Nguồn lực đầu tư cho công tác lập quy hoạch, đo đạc, lập, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính, điều tra đánh giá đất, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai chưa được quan tâm đúng mức.

– Tổ chức bộ máy chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ quản lý đất đai; cơ sở vật chất trang thiết bị còn thiếu và lạc hậu; năng lực cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế.

[1] Thu từ tiền sử dụng đất chiếm 67,26% và tiền thuê đất chiếm 15,23%.

[2] Như thu giá trị đất đai tăng thêm không do đầu tư của chủ sử dụng đất mang lại; thu tiền sử dụng các khoảng không gian ngầm, khoảng không trên mặt đất, thu giá trị đất đai thông qua cơ chế “góp đất, tái điều chỉnh đất đai”.

[3]    số vụ án liên quan tới đất đai chiếm trên 70% số vụ án được xét xử hàng năm. Các vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai vẫn chiếm 60% trong tổng số số đơn thư khiếu nại. Các kiến nghị đối với sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai nhất là tại một số Tổng công ty, Tập đoàn lớn của Nhà nước… còn kéo dài, khó xử lý dứt điểm.

  1. Cơ sở chính trị, pháp lý

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng[1], Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII[2] và các Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa[3], Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế[4], Kết luận số 81-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030 đã đặt ra các định hướng để hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong thời gian tới[5] và Nghị quyết số 82/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của Quốc hội về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị[6] đều đặt ra yêu cầu về hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai để quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, phát huy hiệu quả nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa công bằng và ổn định xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo động lực để nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Đặc biệt, Nghị quyết số 18-NQ/TW với 05 quan điểm, 3 mục tiêu tổng quát, 6 mục tiêu cụ thể, 6 nhóm giải pháp và 8 nhóm chính sách lớn trong hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về đất đai và tổ chức thực thi[7]. Đây là định hướng Chính trị quan trọng trong sửa đổi Luật đất đai năm 2013.

Những vấn đề nêu trên đặt ra yêu cầu phải xây dựng dự án Luật đất đai (sửa đổi) và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

[1] “Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính”.

[2] “Xây dựng chiến lược, hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, trọng tâm là đất đai. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về đất đai, nâng cao chất lượng công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hiện đại hoá lĩnh vực địa chính, dịch vụ công về đất đai. Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, bền vững, hiệu quả, tiết kiệm trong sử dụng đất. Phát triển lành mạnh thị trường quyền sử dụng đất, chú trọng thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp, khắc phục tình trạng đầu cơ đất. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách thúc đẩy tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, khắc phục tình trạng manh mún, tạo điều kiện thu hút đầu tư, ứng dụng cơ giới hoá và công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ngăn chặn tình trạng để đất hoang hoá, sử dụng đất lãng phí, tăng cường quản lý, khắc phục suy thoái đất. Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả đất công, đất có nguồn gốc nông, lâm trường. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất, kịp thời phát hiện, xử lý dứt điểm các vi phạm, tranh chấp, lấn chiếm đất đai. Kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, trục lợi, làm thất thoát nguồn thu ngân sách liên quan đến đất. Hoàn chỉnh công tác điều tra cơ bản, đánh giá, xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên đất, nước, rừng, biển, khoáng sản và đa dạng sinh học”…

“Phát triển thị trường, đẩy mạnh thương mại hóa quyền sử dụng đất, tăng cường đăng ký quyền sử dụng đất và áp dụng định giá đất theo thị trường bảo đảm công khai, minh bạch”.

[3] Đã đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện pháp luật về đất đai để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả đất đai, khắc phục tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực này; công khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng đất công; tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất giao cho các cộng đồng và doanh nghiệp nhà nước; tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng hoặc cho thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; hỗ trợ tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn và nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn, công nghệ cao, gắn với bảo đảm việc làm và thu nhập bền vững của nông dân, giữ vững ổn định chính trị – xã hội ở nông thôn.

[4] “Sửa đổi, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách tạo khung khổ pháp lý điều chỉnh hạn điền, thực hiện tích tụ tập trung ruộng đất để cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển các vùng thâm canh, chuyên canh nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao; phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Rà soát diện tích đất và tình hình đất đã giao cho các chủ sử dụng, nhất là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước quy mô lớn. Xử lý triệt để bất cập trong quản lý, sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp, nhất là tình trạng lấn chiếm, chuyển nhượng, chuyển mục đích, cho thuê, cho mượn, giao khoán trái pháp luật”

[5] “Rà soát, sửa đổi, hoàn thiện cơ chế, chính sách đất đai, tài chính, bảo hiểm, tín dụng, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững. Bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất lúa được quy hoạch; cho phép chuyển đổi linh hoạt cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất lúa, nhưng không làm thay đổi tính chất, điều kiện sử dụng đất lúa, bảo đảm mục tiêu giữ ổn định diện tích đất lúa. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ thỏa đáng cho nông dân, địa phương trồng lúa và doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh lúa gạo; nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất lúa. Đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và ứng dụng công nghệ cao để quản lý, sử dụng đất trồng lúa hiệu quả, bền vững. Nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai”.

[6] Giao Chính phủ là xem xét, sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 và các luật liên quan đến quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị để khắc phục các vướng mắc, bất cập, mâu thuẫn hiện nay, bảo đảm tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật về đất đai, quy hoạch đô thị và xây dựng.

[7] Hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng bảo đảm tiết kiệm, bền vững, hiệu quả cao nhất; đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá công bằng và ổn định xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo động lực để nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, trở thành kênh phân bổ đất đai hợp lý, công bằng, hiệu quả.

II. phần 2. Những nội dung cơ bản và điểm mới của Luật Đất đai 2024

Sáng 18-1-2024, với 432/477 đại biểu có mặt (chiếm 87,63% tổng số đại biểu Quốc hội) tán thành đã biểu quyết thông qua Luật Đất đai sửa đổi. Bên cạnh đó, có 20 đại biểu không tán thành và 25 đại biểu không biểu quyết.Luật Đất đai năm 2024, có hiệu lực từ 01/01/2025.

Sau khi được tiếp thu, chỉnh lý, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) trình Quốc hội tại Kỳ họp bất thường lần thứ 5 gồm 16 chương, 260 điều, bỏ 05 điều, sửa đổi, bổ sung tại 250 điều (cả về nội dung và kỹ thuật) so với dự thảo Luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 6.

Đổi mới quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các quy định của Luật Đất đai sửa đổi đã được hoàn thiện theo hướng đổi mới quy trình, nội dung, phương pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Trong đó có việc tăng cường công khai, minh bạch, sự tham gia của người dân trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất thông qua việc tổ chức lấy ý kiến; bổ sung, hoàn thiện các quy định về việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất trong các khu vực quy hoạch.

Theo đó quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất.

Phân cấp cho các địa phương trong xác định các chỉ tiêu quy hoạch để các địa phương chủ động phát triển kinh tế – xã hội.

Theo Bộ TN&MT, những đổi mới trong các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sẽ là nền tảng đưa nguồn lực đất đai làm đầu vào cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao như chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Quy định cụ thể trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội

Về thu hồi, bồi thường hỗ trợ tái định cư, Luật Đất đai sửa đổi đã quy định cụ thể các trường hợp nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Các dự án mà Nhà nước thu hồi trong trường hợp này phải là các dự án: (1) xây dựng công trình công cộng; (2) xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, công trình sự nghiệp; (3) các trường hợp khác, bao gồm nhiều nhóm tiêu chí như nhà ở, khu sản xuất, phát triển quỹ đất, khoáng sản, công trình ngầm và các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để đấu giá, đấu thầu nhằm tăng thu ngân sách…

Với 31 trường hợp cụ thể Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đã cơ bản bao quát.

Bên cạnh đó, luật cũng đã quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng với nhiều điểm mới, bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Việc này cũng nhằm vì lợi ích chung của cộng đồng và vì sự phát triển bền vững, văn minh và hiện đại của cộng đồng, của địa phương; quan tâm đến đối tượng chính sách xã hội, đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Cùng đó là các bước thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất đảm bảo nguyên tắc có sự tham gia của người dân ở các giai đoạn, đảm bảo nguyên tắc người có đất bị thu hồi được bồi thường, tái định cư trước khi thu hồi đất…

Các trường hợp giao đất không thông qua đấu giá đấu thầu

Về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, Luật Đất đai sửa đổi đã quy định cụ thể các trường hợp giao đất không thông qua đấu giá, đấu thầu và các trường hợp phải thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất, quy định thể các trường hợp cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 18 của Trung ương.

Luật đã quy định cụ thể điều kiện, thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, trong đó phân cấp toàn bộ thẩm quyền chấp thuận việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên cho HĐND cấp tỉnh.

Trong đó, quy định rõ hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở hoặc chuyển mục đích sử dụng các loại đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở thì căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để cho phép chuyển mục đích sử dụng đất mà không căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện.

Đảm bảo quỹ đất thực hiện chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Về chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đây cũng là một trong những nội dung được nghiên cứu, bổ sung đưa vào quy định trong Luật Đất đai sửa đổi.

Luật đã quy định các chính sách bảo đảm đất sinh hoạt cộng đồng; giao đất, cho thuê đất đối với đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất ở, đất sản xuất; đảm bảo quỹ đất để thực hiện chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Quy định hạn chế một số quyền của người sử dụng đất đối với các trường hợp được giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo chính sách hỗ trợ đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Giảm đầu mối trung gian trong giao đất, cho thuê đất

Một quy định khác là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, thống nhất quản lý theo hướng nâng cao trách nhiệm của địa phương và kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ của Trung ương.

Cạnh đó, giảm đầu mối, giảm trung gian, gắn với cải cách hành chính, giảm phiền hà, tiêu cực. Giảm đầu mối trung gian trong giao đất, cho thuê đất tại khu kinh tế, khu công nghệ cao, cảng hàng không sân bay.

Tập trung cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa, minh bạch thủ tục hành để người dân thuận tiện trong quá trình thực hiện thủ tục.

Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tập trung thống nhất

Điểm mới thứ sáu là điều tra cơ bản đất đai, đánh giá tiềm năng đất đai, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tập trung thống nhất.

Theo Bộ TN&MT, Luật Đất đai sửa đổi lần này đã thể chế các quan điểm, chủ trương của Nghị quyết 18 của Trung ương, giải quyết được các vướng mắc, bất cập đã chỉ ra trong quá trình tổng kết thi hành Luật Đất đai.

Đất không có giấy tờ trước 1-7-2014 sẽ được cấp sổ đỏ
Đáng chú ý, tại điều 138 Luật Đất đai (sửa đổi) quy định theo hướng xem xét công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất đến trước ngày 1-7-2014.
Cụ thể, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 18-12-1980, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ ngày 18-12-1980 đến trước ngày 15-10-1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp cũng sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Trong đó, đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở quy định của Luật thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất.
Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp thì được công nhận theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; nếu người sử dụng đất có nhu cầu công nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp mà phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch đô thị hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được công nhận vào mục đích đó và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ ngày 15-10-1993 đến trước ngày 1-7-2014, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là không có tranh chấp thì diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Tại đây, đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống mà diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức giao đất ở quy định của luật thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở. Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó.

– Tăng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp

Luật Đất đai (sửa đổi) 2024 cho phép mở rộng “hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của cá nhân không quá 15 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của cá nhân đối với mỗi loại đất” tại khoản 1 Điều 177 và các quy định về “tập trung đất nông nghiệp”, “tích tụ đất nông nghiệp” tại Điều 177, Điều 192 tạo điều kiện để nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, quy mô sản xuất hàng hoá nông sản ngày càng lớn nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2030 phát triển 1 triệu héc-ta đất chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải ròng bằng 0 (Net zero) tại đồng bằng sông Cửu Long, bảo đảm môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng dụng khoa học, công nghệ, phù hợp với đặc điểm về đất đai, địa hình, khí hậu, văn hóa, quá trình chuyển dịch lao động, chuyển đổi nghề, việc làm ở nông thôn của từng vùng, từng khu vực, từng địa phương và phù hợp với nhu cầu của thị trường.

Luật Đất đai (sửa đổi) 2024 sẽ tạo điều kiện sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả hơn để cho ngành nông nghiệp ngày càng phát triển, nông dân ngày càng giàu có và bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới, sẽ tác động tích cực đến cả nền kinh tế và thị trường bất động sản trong quá trình đô thị hóa và phát triển các khu dân cư nông thôn, làm tăng nhu cầu tạo lập nhà ở của người dân nông thôn, nhất là các nông dân tỷ phú.

– Bỏ khung giá đất

Luật Đất đai (sửa đổi) 2024 đã bỏ “khung giá đất” và quy định “bảng giá đất” tại Điều 159, theo đó “bảng giá đất” được xây dựng hằng năm và “bảng giá đất lần đầu” được công bố và áp dụng từ ngày 01/01/2026 và được điều chỉnh từ ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo sẽ giúp cho “bảng giá đất” tiệm cận giá đất thị trường, nhưng quy định này cũng sẽ làm gia tăng áp lực công việc cho các địa phương.

Đồng thời, khoản 5 Điều 158 và Điều 160 Luật Đất đai (sửa đổi) 2024 đã quy định 4 phương pháp định giá đất gồm “phương pháp so sánh”, “phương pháp thu nhập”, “phương pháp thặng dư”, “phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất” để xác định “giá đất cụ thể” và trong trường hợp cần thiết phải quy định “phương pháp định giá đất khác” chưa được quy định thì Chính phủ đề xuất và được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, để đảm bảo vận hành thông suốt công tác định giá đất để phát triển kinh tế – xã hội.

 – Khai thác quỹ đất

Luật Đất đai (sửa đổi) 2024 đã bổ sung Chương VIII về “phát triển, quản lý và khai thác quỹ đất” (Ghi chú: Luật Đất đai 2013 không có Chương này) quy định “nguyên tắc phát triển, quản lý và khai thác quỹ đất” yêu cầu “việc phát triển, quản lý và khai thác quỹ đất phải theo quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, sử dụng đất đúng mục đích, công khai, minh bạch, hợp lý, hiệu quả và theo quy định của pháp luật; bảo đảm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, hỗ trợ tái định cư, an sinh xã hội, bố trí đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số để thực hiện chính sách theo quy định của Luật này” (Điều 112), mà nếu thực hiện được nguyên tắc này thì Tổ chức phát triển quỹ đất của Nhà nước sẽ trở thành nhà cung cấp quỹ đất lớn nhất trên “thị trường sơ cấp đất đai” phục vụ đầu tư phát triển kinh tế – xã hội và thông qua việc thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất thì toàn bộ “địa tô chênh lệch” sẽ thu vào ngân sách nhà nước để phục vụ lợi ích công cộng, sẽ được sự ủng hộ, đồng thuận của người có đất bị thu hồi và xã hội.

Decuongtuyentruyen sẽ tiếp tục câp nhật nội dung mới và bài giảng tuyên truyền LUật Đất đai 2024

Giới thiệu Đề cương Tuyên truyền

Đề cương tuyên truyền pháp luật (trang web thành viên của https://trangtinphapluat.com): Nơi cung cấp các đề cương tuyên truyền, nghiệp vụ tuyên truyền pháp luật Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *