Ngày 23/8/2026, Quốc hội khóa XVI thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 12/2026/QH16, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027. Decuongtuyentruyen.com biên soạn, giới thiệu tới bạn đọc Đề cương tuyên truyền những điểm mới của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2026
PHẦN 1. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 2026
- Cơ sở chính trị, pháp lý
1.1. Cơ sở chính trị
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) trong thời gian qua được Đảng ta đặc biệt quan tâm và xác định rõ “là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng”, “nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”[1]. Để tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác PBGDPL trong việc góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, nhiều văn kiện mới được Đảng ban hành gần đây đã đề ra các chủ trương, định hướng mới đối với công tác này, trong đó nhấn mạnh yêu cầu, nhiệm vụ “tiếp tục đổi mới công tác PBGDPL”, “thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực của mọi chủ thể trong xã hội”[2]; “xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật”,“đa dạng hóa phương thức truyền thông chính sách, PBGDPL”, “ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số đồng bộ trong PBGDPL”[3], “đẩy mạnh truyền thông chính sách, nhất là các chính sách có tác động lớn đến xã hội, người dân, doanh nghiệp”[4]; “… phục vụ người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận pháp luật… trên môi trường số”[5]; “giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, coi trọng danh dự của cán bộ, đảng viên”[6]; “bảo đảm tính đồng bộ, xuyên suốt, hiệu quả giữa PBGDPL với xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật”[7];“tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam”[8]…

Cùng với đó, các quan điểm, chủ trương, định hướng mới của Đảng về đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật, chuyển từ tư duy quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển, “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm”, “ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số”[9]; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, xây dựng Chính phủ số, công dân số, xã hội số; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp… đã tác động lớn đến công tác PBGDPL, đặt ra yêu cầu đổi mới từ việc quản lý và cách thức triển khai hoạt động PBGDPL đến người dân, doanh nghiệp.
1.2. Cơ sở pháp lý
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25); “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (Điều 39); “công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật…” (Điều 46).
Để thể chế hóa và triển khai kịp thời các chủ trương mới của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều Luật quan trọng về tổ chức bộ máy, về xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật cũng như các lĩnh vực khác và có liên quan đến công tác PBGDPL, cụ thể như: Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15, Luật Báo chí số 126/2025/QH15, Luật Tổ chức Quốc hội số 62/2025/QH15, Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 123/2025/QH15…
Trên cơ sở đó, tại Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026, Chính phủ được giao trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật PBGDPL (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026). Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ về phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026 đã giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng dự án Luật PBGDPL (sửa đổi). Ngày 14/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP về chính sách của Luật PBGDPL (sửa đổi), theo đó Chính phủ đã thông qua 06 chính sách của Luật.
- Cơ sở thực tiễn
Sau 13 năm thi hành Luật PBGDPL, công tác PBGDPL đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp từ Trung ương đến cơ sở; đạt được một số kết quả như: Việc tổ chức thực hiện PBGDPL ngày càng được chú trọng, dần đi vào nền nếp, huy động toàn xã hội tham gia, qua đó đưa chính sách, pháp luật đi vào đời sống thực tiễn; hoạt động họp báo, ra thông cáo báo chí, quán triệt, xây dựng tài liệu giới thiệu mục đích, ý nghĩa và nội dung cơ bản, điểm mới, đồng thời hướng dẫn, định hướng phổ biến các luật, pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) mới ban hành được triển khai kịp thời, bám sát từng kỳ họp của Quốc hội; công tác xây dựng, ban hành kế hoạch, văn bản chỉ đạo, định hướng truyền thông chính sách, PBGDPL, nhất là các chính sách, văn bản quan trọng, có tác động rộng, lớn đến xã hội, người dân, doanh nghiệp, những vấn đề được dư luận xã hội quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội từng bước được quan tâm và đẩy mạnh; nội dung, hình thức PBGDPL đa dạng, phong phú, bám sát nhu cầu xã hội, việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong PBGDPL được chú trọng; tương tác, trả lời các vấn đề pháp luật mà người dân, doanh nghiệp quan tâm và tổng hợp, xử lý phản ánh, kiến nghị về VBQPPL trên môi trường số bảo đảm thuận tiện, kịp thời, nhanh chóng; ngân sách nhà nước đã bố trí kinh phí hằng năm dành cho công tác PBGDPL; một số cơ quan, tổ chức bước đầu đã thực hiện xã hội hóa, huy động nguồn lực xã hội, nhất là sự hỗ trợ, đóng góp của tổ chức, doanh nghiệp trong triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam. Qua đó nâng cao ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, qua tổng kết cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thi hành Luật PBGDPL còn một số hạn chế, bất cập, cụ thể:
2.1. Bất cập, hạn chế từ quy định của Luật PBGDPL
Một số quy định của Luật PBGDPL năm 2012 không còn phù hợp thực tế trong bối cảnh Đảng ban hành nhiều chủ trương, định hướng mới, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu phân định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, chủ thể có thẩm quyền trong quản lý, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; đẩy mạnh công tác truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng và hoàn thiện VBQPPL; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cụ thể:

Thứ nhất, chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL trong việc phổ biến, giáo dục văn bản đến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp để giúp thực thi được kịp thời, hiệu quả, thống nhất. Chủ thể và nội dung quản lý nhà nước về PBGDPL theo quy định hiện hành chưa phù hợp. Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 đã quy định về trách nhiệm, quy trình xây dựng, soạn thảo VBQPPL nhưng Luật PBGDPL chưa quy định rõ trách nhiệm và quy trình PBGDPL đối với văn bản đó. Đồng thời Luật cũng chưa quy định trách nhiệm thực hiện PBGDPL chuyên ngành của các bộ, cơ quan ngang bộ thuộc phạm vị và lĩnh vực được giao quản lý theo đề nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, tạo điều kiện cho Mặt trận thực hiện công tác PBGDPL đến các thành viên, hội viên và Nhân dân. Trách nhiệm PBGDPL đối với văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không do Chính phủ trình cũng chưa được phân định rõ để tạo cơ sở pháp lý xác định và nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan. Ngoài ra, một số nội dung về quản lý nhà nước chưa đầy đủ, chưa phù hợp với từng chủ thể quản lý nhà nước ở các cấp; một số quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương về PBGDPL không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân về PBGDPL chưa được quy định rõ nhằm bảo đảm và thực hiện quyền và nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ; chưa quy định rõ cơ chế giao trách nhiệm cho người đứng đầu chính quyền địa phương, nhất là cấp xã trong tổ chức thực hiện công tác PBGDPL trên địa bàn.
Thứ hai, quy định về đối tượng đặc thù chưa bao quát, phù hợp với thực tế. Ngoài 06 nhóm đặc thù được Luật quy định hiện nay (người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, nạn nhân bạo lực gia đình, người lao động trong các doanh nghiệp, người đang chấp hành hình phạt tù, đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã), còn có một số đối tượng khác cũng thuộc nhóm dễ bị tổn thương, yếu thế, hạn chế điều kiện tiếp cận pháp luật, nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao nhưng rất cần sự quan tâm và xác định rõ là đối tượng đặc thù (người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người có hành vi bạo lực, người có nguy cơ vi phạm pháp luật). Nghị quyết số 59-NQ/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 24/01/2025 thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về đối ngoại và hợp tác quốc tế. Trong đó cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giữ vai trò hết sức quan trọng, góp phần xây dựng hình ảnh, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước đối với khu vực và thế giới. Việc tiếp tục quan tâm, mở rộng các đối tượng đặc thù cần được ưu tiên PBGDPL là cần thiết, bảo đảm tính toàn diện, góp phần thực hiện mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Bên cạnh đó, Luật PBGDPL hiện hành chỉ quy định đối tượng, nội dung PBGDPL cho từng đối tượng đặc thù nhưng chưa rõ và đầy đủ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan, nhất là trách nhiệm, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về đối tượng đặc thù và chính quyền địa phương các cấp, bảo đảm công tác quản lý, chỉ đạo, định hướng, theo dõi, hướng dẫn hoạt động PBGDPL cho đối tượng đặc thù kịp thời, hiệu quả, phù hợp. Đặc biệt chưa có cơ chế, chính sách ưu tiên PBGDPL cho đối tượng đặc thù, dẫn đến kết quả, hiệu quả PBGDPL trong thời qua chưa rõ nét, chưa được đầu tư nguồn lực phù hợp, tương xứng.
Thứ ba, chưa quy định về bồi dưỡng pháp luật cho công chức, viên chức. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm, chú trọng triển khai công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ, công chức. Tuy nhiên, năng lực chuyên môn, trong đó có kiến thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cấp cơ sở còn hạn chế. Tại Văn bản số 12154/VPCP-TCCV ngày 09/12/2025 của Văn phòng Chính phủ về nghiên cứu kiến nghị của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, trong đó có kiến nghị đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức địa phương theo từng giai đoạn, nhất là các lĩnh vực tài chính, pháp lý, công nghệ thông tin và quy hoạch.
Thứ tư, công tác giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân chậm được đổi mới, Luật chưa quy định và phân định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan, nhất là trách nhiệm của Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo và cơ sở giáo dục; chưa chú trọng nâng cao năng lực, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật và kỹ năng PBGDPL cho đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy pháp luật, giáo dục công dân cũng như trang bị kiến thức pháp luật liên quan đến ngành, nghề đào tạo của sinh viên. Trước yêu cầu đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần của Nghị quyết số 71-NQ/TW[10], công tác giáo dục pháp luật cần được đổi mới theo hướng thực chất, lấy người học làm trung tâm, từ đó xây dựng, phát triển toàn diện thế hệ tương lai của đất nước, góp phần xây dựng văn hóa pháp luật trong học sinh, sinh viên, học viên, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới.
Thứ năm, quy định về báo cáo viên pháp luật các cấp còn bó hẹp trong phạm vi cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân, dẫn đến chưa thu hút, huy động rộng rãi nguồn lực xã hội, nhất là đội ngũ chuyên gia có kiến thức pháp lý chuyên sâu, có kinh nghiệm, kỹ năng PBGDPL, quân nhân chuyên nghiệp trong các lực lượng vũ trang, luật sư, luật gia, người có uy tín tại cộng đồng… Quy định về thẩm quyền công nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật của các cơ quan, tổ chức ở trung ương chưa phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và gắn với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó; vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không còn báo cáo viên pháp luật cấp huyện. Đặc biệt còn thiếu cơ chế, chính sách động viên, khuyến khích lực lượng này tham gia công tác PBGDPL.
Thứ sáu, chưa quy định đầy đủ, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho việc đổi mới công tác PBGDPL theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, từ công tác quản lý đến tổ chức hoạt động PBGDPL cho người dân, doanh nghiệp. Các cơ quan, địa phương đã đẩy mạnh các hoạt động PBGDPL trên môi trường số như: xây dựng các Cổng/Trang thông tin điện tử, qua các nền tảng số (Zalo, Facebook, Tiktok,…), sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong cung cấp thông tin pháp luật,… Thực tế này đặt ra yêu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật về PBGDPL để một mặt tăng cường quản lý nhà nước, mặt khác tạo cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng các nền tảng số, mạng xã hội trong PBGDPL, bảo đảm kịp thời, nhanh chóng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.

Các bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương, địa phương, nhất là các cơ quan truyền thông, báo chí chủ lực quốc gia và hệ thống Đài phát thanh, truyền hình địa phương đã tham gia tích cực vào công tác truyền thông chính sách, PBGDPL. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng, hiệu quả và yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong truyền thông chính sách, PBGDPL, bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh, tự chủ tài chính, cần xác định rõ trách nhiệm của cơ quan thông tin, báo chí trong truyền thông chính sách, PBGDPL, phát huy vị trí, vai trò và thế mạnh của các cơ quan này, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của báo chí theo quy định mới của pháp luật, kịp thời thông tin đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống.
Thứ bảy, Hội đồng phối hợp PBGDPL Trung ương, cấp tỉnh đã được duy trì và thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ được giao theo quy định và kế hoạch hằng năm. Cơ chế Hội đồng phối hợp liên ngành trong thời gian qua đã phát huy được vai trò và hiệu quả. Các nhiệm vụ PBGDPL có liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức, nhất là chính sách, văn bản quan trọng, có tác động lớn đến xã hội hoặc được dư luận xã hội quan tâm đã được Hội đồng chỉ đạo, định hướng triển khai kịp thời, có chất lượng. Vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, chính quyền địa phương cấp xã có vai trò, trách nhiệm lớn hơn rất nhiều so với cấp xã trước đây cả về địa bàn, quy mô dân số, nhiệm vụ, quyền hạn, được thực hiện nhiều nhiệm vụ trước đây của cấp huyện và được phân cấp các nhiệm vụ khác từ Trung ương, cấp tỉnh. Tuy nhiên, Luật PBGDPL chưa quy định về Hội đồng cấp xã, dẫn đến công tác PBGDPL tại cơ sở còn hạn chế, chủ yếu dồn và tập trung vào đầu mối công chức tư pháp – hộ tịch trong bối cảnh khối lượng công việc, nhiệm vụ áp lực, quá tải; do đó chưa đáp ứng nhu cầu thực sự của người dân, doanh nghiệp trên địa bàn. Xuất phát từ nhu cầu thực tế, đến nay đã có 1135/3321 đơn vị cấp xã đã thành lập Hội đồng (chiếm hơn 34%). Một số địa phương đã thành lập Hội đồng tại 100% đơn vị hành chính cấp xã hoặc chỉ đạo thành lập Hội đồng tại toàn bộ đơn vị cấp xã. Trong khi đó, Luật PBGDPL cung chưa quy định cơ chế giao trách nhiệm cho người đứng đầu chính quyền địa phương cấp xã trong tổ chức thực hiện hoạt động PBGDPL trên địa bàn.
Thứ tám, nội dung, hình thức PBGDPL theo quy định của Luật chưa theo kịp thực tiễn; chưa chú trọng phân loại nội dung PBGDPL theo đối tượng. Hệ thống pháp luật đã được tiệm cận thống nhất với quốc tế[11], đồng thời yêu cầu đổi mới tư duy trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật[12] đòi hỏi điều chỉnh kịp thời cho phù hợp, bảo đảm nội dung PBGDPL được xây dựng, thiết kế dựa trên nhu cầu thực sự của từng nhóm đối tượng; một số hình thức PBGDPL đã lạc hậu, kém hiệu quả so với tình hình biến đổi nhanh chóng về công nghệ thông tin, chuyển đổi số hiện nay, dẫn đến quy định hiện hành mang tính hình thức, ít được sử dụng trên thực tế.
Thứ chín, quy định về kinh phí cho công tác PBGDPL chưa bảo đảm thống nhất, chưa tương xứng với vị trí, tầm quan trọng của công tác này trong bối cảnh mới. Quy định ngân sách Trung ương hỗ trợ kinh phí PBGDPL cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách không được triển khai trên thực tế, thiếu tính khả thi do chưa thống nhất với quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Đặc biệt, còn thiếu quy định về ưu tiên nguồn lực, kinh phí tương xứng về PBGDPL, nhất là cho các đối tượng đặc thù. Các cơ quan, địa phương bố trí định mức còn hạn hẹp, có chênh lệch lớn, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực tế cho thấy, các địa phương, đơn vị có điều kiện kinh tế – xã hội tương đồng nhưng nơi nào được cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu quan tâm thì nơi đó được cấp kinh phí nhiều hơn[13].
[1] Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ Nhân dân (Chỉ thị 32-CT/TW); Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW (Kết luận số 80-KL/TW).
[2] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[3] Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW).
[4] Nghị quyết số 66-NQ/TW.
[5] Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết XIV của Đảng.
[6] Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV.
[7] Kết luận số 80-KL/TW.
[8] Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
[9] Nghị quyết số 66-NQ/TW.
[10] Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 28/5/2025 của Bộ Chính trị: Đổi mới nội dung, phương thức giảng dạy, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức, lý tưởng, trách nhiệm xã hội, lối sống văn hóa, truyền thống lịch sử, chính trị, tư tưởng, pháp luật, kinh tế, tài chính, quốc phòng và an ninh.
[11] Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới: Cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam được xác định theo thứ bậc từ các nguồn luật, gồm hệ thống VBQPPL và các nguồn bổ trợ (án lệ, tập quán, lẽ công bằng).
[12] Nghị quyết số 66-NQ/TW: Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật, chú trọng công tác giải thích pháp luật và hướng dẫn áp dụng pháp luật
[13] Định mức phân bổ tại cấp tỉnh dao động từ vài trăm triệu đồng/năm đến vài chục tỷ/năm; một số địa phương có mức kinh phí lớn như TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Phú Thọ, An Giang…
PHẦN 2. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
So với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, Luật năm 2026 có nhiều đổi mới quan trọng, thể hiện yêu cầu đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) từ chủ yếu cung cấp, truyền đạt kiến thức pháp luật sang lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; gắn PBGDPL với xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, truyền thông chính sách, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật.
Mở rộng phạm vi điều chỉnh, đưa truyền thông chính sách vào Luật PBGDPL: Một trong những điểm mới nổi bật nhất là truyền thông chính sách được chính thức đưa vào phạm vi điều chỉnh của Luật.
Luật năm 2012 chủ yếu điều chỉnh quyền được thông tin về pháp luật, trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân; nội dung, hình thức PBGDPL; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các điều kiện bảo đảm cho công tác PBGDPL. Luật năm 2026 mở rộng phạm vi điều chỉnh sang cả truyền thông chính sách và dành riêng Mục 4 Chương II để quy định về hoạt động này. Theo Điều 21 Luật năm 2026, truyền thông chính sách là hoạt động cung cấp thông tin và tương tác đa chiều về chính sách, dự thảo văn bản trong quá trình đề xuất và soạn thảo. Hoạt động này nhằm giúp người dân, doanh nghiệp và xã hội hiểu rõ nội dung, tác động dự kiến của chính sách; tham gia góp ý; đồng thời giúp cơ quan xây dựng chính sách tiếp nhận phản hồi để hoàn thiện chính sách, dự thảo văn bản, tạo sự đồng thuận xã hội và chuẩn bị tốt hơn cho việc tổ chức thi hành sau khi văn bản được ban hành.
Đáng chú ý, cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm thực hiện truyền thông chính sách; tiếp nhận, tổng hợp, giải trình đầy đủ, công khai, kịp thời các ý kiến góp ý, phản hồi. Đây là bước tiến quan trọng trong việc gắn kết xây dựng pháp luật – truyền thông chính sách – PBGDPL – tổ chức thi hành pháp luật.
Quy định đầy đủ hơn quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân: Luật năm 2012 quy định công dân có quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật; Nhà nước bảo đảm, tạo điều kiện thực hiện quyền này.
Luật năm 2026 đã mở rộng và cụ thể hóa đáng kể. Theo Điều 2, công dân có quyền tiếp cận pháp luật; thụ hưởng, tham gia các hoạt động PBGDPL, truyền thông chính sách; được hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật.
Đồng thời, Luật xác định rõ công dân có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; có trách nhiệm chủ động học tập, tìm hiểu pháp luật, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật. Như vậy, người dân không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin pháp luật mà được xác định rõ hơn là chủ thể tham gia vào quá trình PBGDPL và xây dựng chính sách, pháp luật.
Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm: Luật năm 2026 bổ sung nguyên tắc rất quan trọng: nội dung, hình thức PBGDPL phải phù hợp với đặc điểm, nhu cầu, văn hóa, ngôn ngữ và địa bàn cư trú; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Bên cạnh đó, Luật yêu cầu kết hợp hài hòa giữa hình thức truyền thống và hiện đại; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; bảo đảm hoạt động PBGDPL kịp thời, thường xuyên, liên tục, chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, công khai và minh bạch.
Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trở thành phương thức PBGDPL được luật hóa: Đây là một trong những điểm mới nổi bật của Luật năm 2026.
Luật năm 2012 đã ghi nhận internet, trang thông tin điện tử là hình thức PBGDPL. Tuy nhiên, Luật năm 2026 tiến thêm một bước khi quy định cụ thể việc PBGDPL thông qua Cổng Pháp luật quốc gia, nền tảng số, mạng xã hội và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Theo Điều 13, Cổng Pháp luật quốc gia là nền tảng số quốc gia về pháp luật dùng chung cho các ngành, lĩnh vực. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm chuẩn hóa, cập nhật, chia sẻ, quản lý dữ liệu pháp luật thuộc phạm vi quản lý; đồng thời thực hiện PBGDPL thông qua nền tảng số, mạng xã hội và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Đặc biệt, khi sử dụng trí tuệ nhân tạo trong PBGDPL phải bảo đảm dữ liệu dựa trên nguồn thông tin chính thức; kiểm soát tính chính xác; kiểm chứng thông tin trước khi cung cấp; thực hiện cảnh báo, đính chính khi cần thiết và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phát triển, vận hành trí tuệ nhân tạo phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của dữ liệu đầu vào và thông tin do hệ thống của mình cung cấp.
Quy định này tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình chuyển đổi số công tác PBGDPL, đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát chất lượng, độ tin cậy của thông tin pháp luật trên môi trường số.
Bổ sung hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến công nghệ và trí tuệ nhân tạo: Điều 9 Luật năm 2026 quy định cụ thể hơn các hành vi bị nghiêm cấm. Luật nghiêm cấm việc sử dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo hoặc các phương tiện khác để tạo lập, phát tán thông tin, tài liệu giả mạo hoặc làm sai lệch nội dung pháp luật, nội dung chính sách. Cấm cung cấp, trích dẫn, chỉnh sửa, sử dụng, truyền đạt nội dung pháp luật, nội dung chính sách nhằm làm sai ý nghĩa, nội dung; lợi dụng hoạt động PBGDPL, truyền thông chính sách để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; cản trở tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu pháp luật và lợi dụng chính sách xã hội hóa, ưu tiên, hỗ trợ của Nhà nước để trục lợi.
Đây là những quy định có ý nghĩa đặc biệt trong điều kiện thông tin pháp luật ngày càng được sản xuất, chia sẻ nhanh chóng trên mạng xã hội và bằng các công cụ trí tuệ nhân tạo.
Kiện toàn Hội đồng phối hợp PBGDPL phù hợp mô hình chính quyền địa phương hai cấp: Luật năm 2012 quy định Hội đồng phối hợp PBGDPL được thành lập ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện. Luật năm 2026 điều chỉnh mô hình này, quy định Hội đồng được thành lập ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời Hội đồng có thể được thành lập ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức ở Trung ương. Chức năng của Hội đồng cũng được mở rộng, không chỉ tư vấn về PBGDPL và huy động nguồn lực mà còn tư vấn về truyền thông chính sách, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật.
Quy định này phù hợp với tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời tăng vai trò phối hợp PBGDPL ngay tại cấp xã – nơi trực tiếp tiếp xúc và giải quyết phần lớn các vấn đề pháp lý gắn với người dân.
Mở rộng lực lượng báo cáo viên pháp luật, đổi mới cơ chế lựa chọn
Luật năm 2012 quy định báo cáo viên pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan có thẩm quyền quyết định công nhận; báo cáo viên pháp luật ở địa phương gồm cấp tỉnh và cấp huyện.
Luật năm 2026 mở rộng lực lượng báo cáo viên pháp luật, ngoài cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân còn có luật sư, luật gia đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định. Ở địa phương, hệ thống báo cáo viên pháp luật được tổ chức ở cấp tỉnh và cấp xã. Cơ chế “quyết định công nhận” trước đây được chuyển sang lựa chọn, công bố danh sách; đối với một số tổ chức nghề nghiệp về pháp luật, việc lựa chọn phải trên cơ sở sự đồng ý của cá nhân được lựa chọn.
Đối với tuyên truyền viên pháp luật, Luật mới xác định cụ thể đây là người cư trú hoặc làm việc trên địa bàn cấp xã, có uy tín, kiến thức, am hiểu pháp luật và khả năng truyền đạt, được Chủ tịch UBND cấp xã lựa chọn, công bố danh sách trên cơ sở sự đồng ý của cá nhân.
Những thay đổi này góp phần mở rộng nguồn nhân lực xã hội có kiến thức, kỹ năng pháp luật tham gia PBGDPL, đồng thời phù hợp với mô hình chính quyền địa phương mới.
Trao quyền cho HĐND cấp tỉnh ban hành chính sách xã hội hóa PBGDPL phù hợp với địa phương: Luật năm 2012 đã quy định chính sách xã hội hóa công tác PBGDPL. Tuy nhiên, Luật năm 2026 bổ sung thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh, căn cứ tình hình kinh tế – xã hội của địa phương, được quyết định chính sách khác để khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia, hỗ trợ công tác PBGDPL tại địa phương.
Quy định này tạo cơ sở để từng địa phương chủ động có cơ chế huy động nguồn lực xã hội phù hợp với điều kiện thực tế, góp phần đa dạng hóa chủ thể, nguồn lực và phương thức PBGDPL.
Đánh giá PBGDPL theo kết quả tiếp cận, hiểu biết, tuân thủ pháp luật và sự hài lòng: Một điểm mới rất đáng chú ý là Luật năm 2026 dành riêng Điều 37 về đánh giá hoạt động PBGDPL. Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước về PBGDPL tổ chức đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo định kỳ hoặc đột xuất. Tiêu chí đánh giá phải dựa trên mức độ tiếp cận pháp luật, hiểu biết và tuân thủ pháp luật, sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng và các nội dung phù hợp khác.
So với Luật năm 2012, đây là bước chuyển quan trọng trong cách đánh giá hiệu quả PBGDPL. Kết quả công tác không chỉ được nhìn nhận qua số lượng hội nghị, tài liệu, tin bài hay lượt người tham dự mà ngày càng hướng tới hiệu quả thực chất đối với người được thụ hưởng: người dân có tiếp cận được pháp luật không, có hiểu và vận dụng được pháp luật không, mức độ tuân thủ và sự hài lòng như thế nào.
Những quy định mới nêu trên tạo cơ sở pháp lý để công tác PBGDPL tiếp tục đổi mới theo hướng chủ động, hiện đại, đa chiều, có trọng tâm, trọng điểm, gắn chặt với xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, qua đó đưa pháp luật đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và từng bước hình thành văn hóa thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong xã hội.
Rubi/TH
BLog đề cương tuyên truyền pháp luật Đề cương tuyên truyền văn bản luật