Đề cương tuyên truyền Luật Phát triển đô thị năm 2026

Với 465 đại biểu tán thành, bằng 93% tổng số đại biểu Quốc hội, sáng 24/8/2026, Quốc hội đã thông qua Luật Phát triển đô thị. Luật xác lập các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị, đồng thời tăng cường công khai, minh bạch, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm của địa phương trong tổ chức thực hiện.

Cụ thể kết quả, có 474 đại biểu tham gia biểu quyết, bằng 94,8% tổng số đại biểu Quốc hội; trong đó, 465 đại biểu tán thành, bằng 93%; 3 đại biểu không tán thành, bằng 0,6%; 6 đại biểu không biểu quyết, bằng 1,2%.

Decuongtuyentruyen.com giới thiệu đề cương tuyên truyền Luật Phát triển đô thị năm 2026 để bạn đọc tham khảo:

PHẦN 1.  SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ 

  1. Cơ sở chính trị

1.1. Liên quan đến phát triển đô thị

– Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định các nhiệm vụ chủ yếu, trong đó bao gồm: “tiếp tục thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng, đồng bộ trong các lĩnh vực tài chính, đầu tư, xây dựng, đất đai và các lĩnh vực khác”, “xây dựng cơ chế, chính sách huy động nguồn lực phát triển các công trình hạ tầng chiến lược như:… đường sắt đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”, “hoàn thiện thể chế liên kết vùng, nâng cao hiệu quả điều phối và liên kết phát triển vùng”, “thiết lập và hoàn thiện các chính sách an sinh xã hội linh hoạt, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số trong thực hiện chính sách xã hội”, “ban hành các cơ chế, chính sách đồng bộ nhằm cơ bản khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở các đô thị lớn, đặc biệt là ô nhiễm ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”, “thực hiện mô hình phát triển đô thị theo định hướng phát triển giao thông công cộng (TOD)”, “tổ chức lại và nâng cao năng lực của hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng bảo đảm mọi người dân được tiếp cận thuận lợi và sử dụng hiệu quả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu”, “xây dựng, phát triển một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngang tầm khu vực và quốc tế; hình thành, phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu, hiện đại”

Trắc nghiệm văn kiện Đại hội lần thứ 14 của Đảng
Trắc nghiệm văn kiện Đại hội lần thứ 14 của Đảng

– Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, trong đó đặt ra quan điểm, mục tiêu về việc: “thúc đẩy đô thị đặc biệt Thành phố Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng phát triển năng động của Việt Nam trong thế kỷ XXI; nơi hội tụ khát vọng phát triển, năng lực cạnh tranh toàn cầu và tinh thần đổi mới sáng tạo của đất nước; khẳng định vai trò đi trước, làm mẫu; dẫn đầu về kiến tạo thể chế và chất lượng phát triển, chuẩn mực quản trị; là đầu tàu dẫn dắt tăng trưởng, cực đổi mới sáng tạo và hội nhập quan trọng của cả nước”. Để hiện thực hóa quan điểm, mục tiêu này, Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ trọng tâm mang tính đột phá mà một trong những ưu tiên hàng đầu là việc “nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật Đô thị đặc biệt nhằm tạo thể chế đồng bộ, khung pháp lý phù hợp, thông thoáng và ổn định, trở thành “đột phá của đột phá”, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Thành phố Hồ Chí Minh khai thác tối đa hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, huy động mọi nguồn lực tăng tốc, phát triển nhanh và bền vững”; trong đó: (1) thực hiện phân cấp, phân quyền triệt để cho Hội đồng nhân dân Thành phố, Uỷ ban nhân dân Thành phố, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố trong các lĩnh vực (trừ các nội dung về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và tôn giáo), bao gồm việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội khác với quy định của Chính phủ, bộ, ngành trong một số lĩnh vực theo phân quyền hoặc khi chưa có quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh những vấn đề phát sinh từ thực tiễn của Thành phố; (2) chủ động thí điểm cơ chế, chính sách mới, thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) hoặc khác với quy định của pháp luật; xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng chung, khuyến khích những tiêu chuẩn, quy chuẩn tiến bộ, vượt trội hơn quy chuẩn quốc gia và các địa phương khác…

Nghị quyết số 09-NQ/TW cũng quy định nhiều nội dung đột phá trên các lĩnh vực, là cơ sở để thể chế hóa thành các quy định cụ thể tại Luật Phát triển đô thị.

– Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đề ra nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về việc: (i) sớm xây dựng và ban hành luật về quản lý và phát triển đô thị bền vững; hoàn thiện khung pháp lý cho phát triển đô thị thông minh, quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị và không gian ngầm đô thị. Hoàn thiện pháp luật và các cơ chế, chính sách tạo thuận lợi cho các địa phương trong xử lý các vấn đề liên ngành, liên vùng như: Bảo vệ nguồn nước, kết nối hạ tầng, quản lý chất thải, sử dụng tài nguyên, đất đai, vận tải công cộng, hạ tầng số và logistics…; (ii) xây dựng và thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách để phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị hiện đại, thông minh, dẫn dắt và tạo hiệu ứng lan tỏa, liên kết vùng đô thị; trong đó bao gồm: phát triển các mô hình đô thị mới phù hợp với thực tiễn, chú trọng mô hình phát triển đô thị theo hướng giao thông (TOD); nghiên cứu, xây dựng mô hình quản lý vùng đô thị phù hợp cho giai đoạn mới; (iii) Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài chính, ngân sách đặc thù đối với Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và một số đô thị lớn. Rà soát, xác định tỷ lệ nguồn thu giữ lại hợp lý hơn đối với các đô thị đặc biệt để bảo đảm phát huy vai trò của các đô thị động lực trong cả nước, có cơ chế tạo nguồn thu, phân cấp ngân sách để lại cho các đô thị có kế hoạch nâng loại đô thị. Phân quyền mạnh mẽ cho các chính quyền đô thị các khoản thu từ các loại thuế, phí. Thí điểm, tiến tới mở rộng phân cấp cho các thành phố trực thuộc Trung ương và các đô thị khác đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện được quyết định một số khoản thu đặc thù gắn với yêu cầu tăng cường trách nhiệm cung cấp dịch vụ đô thị…

– Kết luận số 224-KL/TW ngày 08/12/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW yêu cầu thực hiện nội dung trọng tâm về “tập trung phát triển Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị văn minh toàn cầu. Khẩn trương sơ kết đánh giá tình hình thực hiện… Nghị quyết số 31-NQ/TW, ngày 30/12/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đề xuất chủ trương, giải pháp phát triển Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù tạo điều kiện để các thành phố lớn như Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương lân cận huy động tối đa các nguồn lực công – tư triển khai đầu tư các dự án hạ tầng quy mô lớn, mang tính kết nối đồng bộ trong đô thị và trong các vùng kinh tế trọng điểm”.

Đề cương tuyên truyền điểm mới của Luật Phát triển đô thị
Đề cương tuyên truyền điểm mới của Luật Phát triển đô thị

– Tại các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đề ra yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp về việc: (i) đổi mới tư duy quản lý, tăng cường phân cấp, phân quyền tối đa theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, cắt giảm thủ tục hành chính bất hợp lý ; (ii) “khẩn trương, quyết liệt hoàn thiện thể chế… đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”; “có cách tiếp cận mở, vận dụng sáng tạo, cho phép thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra. Chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo”; “phát triển các viện nghiên cứu, trường đại học trở thành các chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo”; “kịp thời xây dựng, hoàn thiện pháp luật và cơ chế, chính sách đột phá để khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển trong những lĩnh vực ưu tiên, đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tham gia vào các nhiệm vụ quan trọng, chiến lược của quốc gia và vươn tầm khu vực, thế giới; thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp sáng tạo, chuyển đổi số và làm giàu hợp pháp, chính đáng”; “phát triển y tế chuyên sâu đáp ứng yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế. Thúc đẩy liên kết giữa bệnh viện, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp nhằm phát triển y học công nghệ cao, chuyên sâu; tập trung phát triển một số trung tâm y tế chuyên sâu chất lượng cao ngang tầm khu vực, quốc tế để thu hút, phát triển du lịch chữa bệnh tại Việt Nam, giảm tình trạng người dân ra nước ngoài chữa bệnh”

– Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 Hội nghị lần thứ Hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” đề ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, trong đó bao gồm “hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu. Đẩy mạnh liên kết vùng, nội vùng, mở rộng và tổ chức lại không gian phát triển phù hợp với hệ thống hành chính mới. Đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng đô thị hóa. Phát triển hạ tầng đô thị đồng bộ, hiện đại gắn với yêu cầu phát triển đô thị xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu. Khai thác hiệu quả không gian tầm thấp, không gian ngầm”.

– Kết luận số 17-KL/TW ngày 02/4/2026 của Bộ Chính trị về Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, theo đó Bộ Chính trị thông qua Đề án Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khoá XVI do Đảng ủy Quốc hội trình và giao Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và Đảng ủy các cơ quan có liên quan chỉ đạo, xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị và Đề án, cụ thể hoá vào chương trình công tác, chương trình lập pháp hằng năm, trong đó có định hướng nghiên cứu xây dựng dự án Luật về đô thị đặc biệt.

– Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 (ngày 14/10/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo: “để xây dựng, phát triển Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm kinh tế, tài chính, công nghệ và dịch vụ hàng đầu khu vực Đông Nam Á và Châu Á, đầu mối lớn về logistics quốc tế và phát triển thông minh, hiện đại, bền vững, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là hoàn chỉnh quy hoạch, tái kiến trúc không gian phát triển theo tư duy đa cực – tích hợp – kết nối, vận hành theo mô hình quản trị đa trung tâm nhằm phân bổ hợp lý nguồn lực và nâng cao hiệu quả điều hành”.

– Tại buổi làm việc ngày 27/4/2026 với Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác định xây dựng và ban hành Luật Đô thị đặc biệt cho Thành phố Hồ Chí Minh là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong 6 nhóm nhiệm vụ chiến lược (Thông báo kết luận số 46-CV/VPTW ngày 04/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng): “đặt trọng tâm cải cách vào thể chế phát triển. Việc sớm ban hành nghị quyết mới của Bộ Chính trị thay thế Nghị quyết số 31-NQ/TW, ngày 30/12/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là cần thiết, phù hợp bối cảnh và không gian mới, đồng thời xây dựng và ban hành Luật Đô thị đặc biệt cho Thành phố Hồ Chí Minh với phương châm “Cả nước vì Thành phố, Thành phố vì cả nước”. Nghị quyết và Luật phải phản ánh đúng tầm vóc, vị thế và sứ mệnh của Thành phố, tập trung tạo đột phá về thể chế và quản trị, nâng cao tự chủ tài khoá, công cụ tài chính hiện đại, đồng ý chủ trương Thành phố được giữ lại nguồn lực lớn hơn và chủ động huy động vốn; thử nghiệm thể chế mới về tài chính, công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu…; phân cấp mạnh và phân quyền thiết kế chính sách với đặc thù một siêu đô thị; cơ chế trọng dụng nhân tài vượt trội… để mở đường cho Thành phố phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới”; đồng thời chỉ đạo: “khẩn trương hoàn thiện dự án Luật trong tháng 7/2026 để trình Quốc hội”.

– Tại Văn bản số 3377-CV/VPTW ngày 28/6/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về ý kiến Bộ Chính trị đối với Đề án xây dựng và phát triển thành phố Đồng Nai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065; trong đó, Bộ Chính trị giao Đảng ủy Chính phủ phối hợp với Đảng ủy Quốc hội chỉ đạo các cơ quan liên quan mở rộng phạm áp dụng của Luật Đô thị đặc biệt đối với thành phố Đồng Nai; nghiên cứu triển khai mở rộng phạm vi áp dụng Luật Đô thị đặc biệt đối với các thành phố trực thuộc Trung ương.

1.2. Liên quan đến khu kinh tế đặc biệt

– Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đề ra nhiệm vụ: “Tiếp tục nghiên cứu và triển khai thí điểm các mô hình khu kinh tế đặc thù, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, các mô hình kinh tế mới tại một số địa phương có tiềm năng và đáp ứng các điều kiện, tiêu chí”.

– Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đề ra quan điểm: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”.

– Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và và Kết luận số 18-KL/TW có đặt ra định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 – 2030 về việc: “Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu”.

– Kết luận số 199-KL/TW ngày 10/10/2025 Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về kinh tế xã hội năm 2025-2026 có nội dung định hướng về việc: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển đặc khu kinh tế tại Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc…”.

– Tại văn bản số 15319-CV/VPTW ngày 10/6/2025 của Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Chính trị giao Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ phối hợp các cơ quan, địa phương liên quan tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tổng thể những vấn đề thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội đối với đặc khu kinh tế trên cả nước, báo cáo Bộ Chính trị tổng thể sau Đại hội XIV của Đảng.

  1. Cơ sở pháp lý

2.1. Liên quan đến phát triển đô thị

– Ngày 24/6/2023, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh. Nghị quyết quy định cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội trên 07 lĩnh vực gồm: quản lý đầu tư; tài chính, ngân sách nhà nước; quản lý đô thị, tài nguyên, môi trường; ngành, nghề ưu tiên thu hút nhà đầu tư chiến lược vào Thành phố; quản lý khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; tổ chức bộ máy của chính quyền Thành phố tạo điều kiện khơi thông nguồn lực, khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế, tạo động lực để phát triển TPHCM. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, đặc biệt là sau sắp xếp, Nghị quyết số 98/2023/QH15 cũng như quy định hiện hành đã bộc lộ những nút thắt mang tính cấu trúc, khiến tăng trưởng của Thành phố chưa bảo đảm tính bền vững, hiệu quả đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng, năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế. Do vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đã báo cáo các cấp có thẩm quyền xem xét, ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội.

– Ngày 11/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 260/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là một văn bản pháp lý đơn thuần mà là một nền tảng thể chế mới, mở ra không gian phát triển mới cho Thành phố trong giai đoạn tới. Trong đó quy định: (i) tập trung vào dự án chiến lược và nhà đầu tư chiến lược có sức lan tỏa vùng và quốc gia. Theo đó, danh mục ưu tiên gồm các dự án hạ tầng quy mô lớn, đô thị thông minh, khu thương mại tự do, công nghệ cao, logistics, thể thao – văn hóa tầm quốc tế; (ii) quy hoạch tổng thể thay cho quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung. Thành phố đang triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể tích hợp, theo hướng tiếp nhận tài trợ kết quả nghiên cứu. Việc tích hợp giúp rút ngắn thời gian thẩm định, đồng bộ hóa hạ tầng giao thông – đô thị – kinh tế – môi trường, tạo hành lang pháp lý thống nhất cho Nhà đầu tư; (iii) giải quyết các vấn đề còn tồn đọng như các dự án BT, tận dụng cơ hội phát triển đô thị theo định hướng phát triển giao thông công cộng (TOD), đáp ứng yêu cầu, định hướng phát triển Thành phố sau hợp nhất; (iv) tiếp tục phân quyền, phân cấp mạnh mẽ cho Thành phố Hồ Chí Minh nhằm phát huy vai trò đầu tàu, tính năng động và khả năng tự chủ trong quản lý, phát triển kinh tế – xã hội.

Nghị quyết số 119/2020/QH14 về chính quyền đô thị Đà Nẵng
Chính quyền địa phương gồm có 2 cấp: Cấp tỉnh và cấp xã

– Bên cạnh đó, Quốc hội cũng đã ban hành một số Nghị quyết đặc thù có nội dung điều chỉnh liên quan đến Thành phố Hồ Chí Minh như: Nghị quyết số 170/2024/QH15 về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa; Nghị quyết số 188/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam…

– Ngày 03/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 143/NQ-CP về đề xuất xây dựng dự án Luật Đô thị đặc biệt; trong đó: thống nhất trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung dự án Luật Đô thị đặc biệt vào Chương trình lập pháp năm 2026 theo trình tự, thủ tục rút gọn và giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về đề xuất xây dựng dự án Luật Đô thị đặc biệt.

– Ngày 10/6/2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành văn bản số 77/UBTVQH16-PLTP về việc xây dựng hồ sơ dự án Luật Đô thị đặc biệt, trong đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội “đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan có liên quan khẩn trương chuẩn bị hồ sơ dự án Luật Đô thị đặc biệt theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu về chất lượng để bảo đảm trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về nội dung dự án đồng thời với việc quyết định bổ sung dự án vào Chương trình lập pháp năm 2026 tại Phiên họp tháng 7/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (trong trường hợp đề nghị bổ sung dự án vào Chương trình kỳ họp Quốc hội tháng 8/2026) hoặc tại phiên họp tháng 9/2026 (trong trường hợp trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án Luật tại Kỳ họp tháng 10/2026)”.

– Ngày 09/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 184/NQ-CP Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 7 năm 2026, trong đó xác định, Chính phủ cơ bản thống nhất về sự cần thiết xây dựng dự án Luật và tên gọi của dự án Luật là “Luật Phát triển đô thị”; thống nhất phạm vi áp dụng gồm: (1) Thành phố Hồ Chí Minh, (2) Các thành phố và (3) Các khu kinh tế đặc biệt; thống nhất báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép xây dựng dự án Luật (sau khi mở rộng phạm vi áp dụng) theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15: “Trường hợp cần ban hành luật, nghị quyết ngay tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra hoặc kỳ họp gần nhất để giải quyết ngay vấn đề cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn mà nội dung đề xuất chưa có trong Chương trình lập pháp hằng năm thì cơ quan trình áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn để xây dựng dự án; gửi hồ sơ dự án để Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đồng thời quyết định việc bổ sung vào dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội để trình Quốc hội xem xét, thông qua”.

2.2. Liên quan đến khu kinh tế đặc biệt

– Theo các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã năm 2025 tại các địa phương, cả nước hiện có 13 đặc khu được hình thành trên cơ sở các huyện đảo trước đây.

Tài liệu tuyên truyền Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân
Tài liệu tuyên truyền Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân

– Căn cứ Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 16/4/2026 của Chính phủ về cập nhật, bổ sung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026- 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”, Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì xây dựng “Cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh cho các đặc khu như Phú Quốc, Côn Đảo, Vân Đồn, Vân Phong, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Hòn Khoai…

2.3. Ngày 09/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 284/NQ-CP Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 7 năm 2026; trong đó: (1) Thống nhất đổi tên dự án Luật từ “Luật Đô thị đặc biệt” thành “Luật Phát triển đô thị”; (2) Thống nhất phạm vi áp dụng bao gồm: (i) Thành phố Hồ Chí Minh, (ii) Các thành phố, (iii) Các khu kinh tế đặc biệt; (3) Xác định khung chính sách gồm 03 nhóm: (i) Quy định cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh; (ii) Quy định cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển các thành phố; (iii) Quy định cơ chế, chính sách phát triển các khu kinh tế đặc biệt; Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương có liên quan thực hiện rà soát tổng thể dự án Luật, bảo đảm tuân thủ chủ trương tại Kết luân số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công, vay, trả nợ công giai đoạn 2026 – 2030.

  1. Cơ sở thực tiễn

3.1. Liên quan đến phát triển đô thị

a) Trong nhiều nhiệm kỳ qua, Bộ Chính trị và Trung ương luôn dành sự quan tâm đối với Thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc ban hành nhiều nghị quyết quan trọng định hướng phát triển Thành phố qua các thời kỳ, từ Nghị quyết số 01-NQ/TW năm 1982, Nghị quyết số 20-NQ/TW năm 2002 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, Nghị quyết số 16-NQ/TW năm 2012 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, đến Nghị quyết số 31-NQ/TW năm 2022 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Trên cơ sở chủ trương của Đảng, Quốc hội đã ban hành nhiều nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy sự phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, như: Nghị quyết số 54/2017/QH14, Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15. Bên cạnh đó, Quốc hội ban hành các nghị quyết chuyên đề để xử lý các vướng mắc phát sinh trên địa bàn Thành phố trong một số lĩnh vực, như: Nghị quyết số 188/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị và Nghị quyết số 170/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa.

b) Qua các giai đoạn phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh được đánh giá cao với nỗ lực phát huy vai trò đầu tàu kinh tế, đạt được nhiều kết quả quan trọng, các cơ chế, chính sách đặc thù đã từng bước phát huy tác dụng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế vốn có; còn một số tồn tại, hạn chế, như:

(1) Tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục tiêu đề ra; chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế. Mô hình tăng trưởng chuyển dịch chậm. Giải ngân đầu tư công và triển khai một số dự án trọng điểm nhiều trường hợp chưa bảo đảm tính kịp thời; môi trường đầu tư chưa đủ thông thoáng. Các ngành kinh tế mũi nhọn, trung tâm tài chính quốc tế, logistics, đổi mới sáng tạo, mô hình đô thị mới có tiềm năng nhưng còn trong quá trình hoàn thiện, chưa phát huy hiệu quả rõ nét và cần có giải pháp phát triển đột phá.

Trong đó, nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế này một phần là do: (i) chưa có cơ chế, chính sách về tài chính, ngân sách đủ mạnh để bảo đảm đáp ứng được yêu cầu về nguồn lực đầu tư, nguồn lực bảo đảm cho yêu cầu, khả năng tăng trưởng, tạo đột phá trong phát triển của Thành phố (ví dụ: mức ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách Thành phố trên số tăng thu ngân sách trung ương từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách Thành phố so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao sau khi đã thực hiện thưởng vượt dự toán các khoản thu theo quy định của pháp luật nhà nước; mức ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu trên số tăng thu từ các khoản thu ngân sách trên địa bàn Thành phố so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao đối với một số khoản thu còn hạn chế); (ii) chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để Thành phố có thể chủ động trong việc quyết định đầu tư đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác của Thành phố với trình tự, thủ tục phù hợp, linh hoạt trong phạm vi pháp luật cho phép để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án; (iii) chưa có cơ chế, chính sách cụ thể để thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược, của khu vực kinh tế tư nhân trong quản lý, khai thác, sử dụng tài sản để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích, phúc lợi xã hội, mục đích công cộng; qua đó, khai thác tối đa tiềm lực kinh tế trong xã hội, giảm áp lực cho ngân sách và bộ máy hành chính của Thành phố; (iv) chưa có cơ chế, chính sách để phát triển các ngành dịch vụ, các khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp với các điều kiện thông thoáng, ưu đãi, thúc đẩy sự phát triển kinh tế gắn với du lịch, dịch vụ (ví dụ: phát triển các Trung tâm Outlet gắn với dịch vụ tổng hợp; hệ thống cửa hàng miễn thuế, cửa hàng hoàn thuế giá trị gia tăng); phát triển kinh tế biển, hạ tầng năng lượng và công nghiệp năng lượng phù hợp với điều kiện mới của Thành phố sau khi mở rộng địa giới hành chính; (v) chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để giải quyết triệt để các vấn đề liên quan đến hạ tầng giao thông, vận tải, logistics gắn với bảo vệ môi trường (ví dụ: xây dựng, phát triển, khai thác, bảo trì đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạ tầng giao thông, logistics, công trình ngầm công cộng; đường vành đai, các trục giao thông kết nối vùng, hệ thống giao thông công cộng khối lượng lớn trên địa bàn Thành phố và kết nối với các địa phương lân cận; hạ tầng giao thông sử dụng năng lượng sạch, giao thông phi cơ giới; hỗ trợ chuyển đổi phương tiện giao thông từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng năng lượng sạch; biện pháp hạn chế sử dụng phương tiện giao thông phát thải gây ô nhiễm môi trường…); (vi) chưa có cơ chế, sách sách thuận lợi, phù hợp để phát triển doanh nghiệp nhà nước, để quản lý và phát huy tối đa hiệu quả của nguồn vốn của nhà nước tại doanh nghiệp…

(2) Công tác quy hoạch còn chậm, thiếu đồng bộ. Phát triển đô thị chưa đồng bộ giữa mở rộng và chỉnh trang; chất lượng không gian đô thị chưa cao; tiến độ phát triển nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ, di dời nhà ven kênh rạch chậm. Ô nhiễm môi trường, chất lượng không khí, xử lý chất thải, ngập nước còn nhiều bất cập; khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu còn hạn chế.

Trong đó, nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế này một phần là do: (i) Thành phố chưa có quy hoạch mang tính tổng thể để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, tạo không gian và động lực phát triển ổn định, lâu dài, nâng cao năng lực chống chịu biến đổi khí hậu cho Thành phố và vùng đô thị đặc biệt. Việc lập, điều chỉnh quy hoạch còn phụ thuộc vào các quy hoạch cấp quốc gia; trình tự, thủ tục còn phức tạp, chưa có cơ chế để lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch đô thị và nông thôn đồng thời trên cơ sở Quy hoạch tổng thể của Thành phố; thiếu cơ chế trong quản lý, khai thác, sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện các dự án lớn, quan trọng, cấp bách (ví dụ: thực hiện dự án phục vụ lợi ích công cộng có ảnh hưởng, làm hạn chế quyền sử dụng không gian ngầm, quyền xây dựng công trình ngầm hoặc quyền xây dựng, sử dụng công trình, không gian trên mặt đất của người dân…); (ii) thiếu cơ chế để xây dựng, cải tạo chỉnh trang, tái thiết đô thị và phát triển nhà ở, bao gồm: phát triển đô thị tại khu vực TOD; đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà ở phục vụ tái định cư, nhà lưu trú công nhân, nhà ở cho thuê và các loại hình nhà ở khác…

(3) Tính liên kết về kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa, du lịch với các địa phương lân cận, các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chưa bảo đảm chặt chẽ, thống nhất, chưa huy động được nguồn lực, sức mạnh tổng thể để tạo hiệu ứng, hiệu quả cao hơn trong phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch và các vấn đề về môi trường của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và khu vực phía Nam nói chung.

Trong đó, nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế này một phần là do chưa có cơ chế đồng bộ, thống nhất để tổ chức liên kết, tổng hợp sức mạnh của các địa phương lân cận với nhau, của vùng đô thị đặc biệt; bao gồm: (i) việc bảo đảm nguồn lực để thúc đẩy liên kết, phát triển giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác trong vùng đô thị đặc biệt; nguyên tắc để phát triển vùng đô thị đặc biệt; về yêu cầu thống nhất trong việc quy hoạch, đầu tư phát triển các dự án liên kết, phát triển vùng đô thị đặc biệt; (ii) nguyên tắc xác định vai trò, trách nhiệm của các địa phương trong việc thực hiện các dự án có quy mô thực hiện trên nhiều địa phương, dự án liên kết, phát triển vùng đô thị đặc biệt; (iii) việc áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù của đô thị đặc biệt trong trường hợp các địa phương tham gia thực hiện dự án liên kết, phát triển vùng, dự án liên kết, phát triển vùng đô thị đặc biệt; (iv) việc tập trung nguồn lực, trong đó bao gồm việc thành lập Quỹ phát triển vùng đặc biệt nhằm hỗ trợ, tài trợ cho các dự án liên kết, phát triển vùng đô thị đặc biệt, các dự án có tính liên vùng (như về giao thông, hạ tầng quan trọng, xử lý ô nhiễm môi trường, sự cố, thiên tai, kiểm soát bệnh tật có tính chất vùng).

(4) Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển chưa đồng bộ, chuyển đổi số chưa đạt kỳ vọng; liên kết viện – trường – doanh nghiệp còn lỏng lẻo; thị trường khoa học – công nghệ chậm phát triển; năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi còn hạn chế;

Trong đó, nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế này một phần là do chưa có cơ chế ưu đãi, đột phá để khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phù hợp với tiềm năng và yêu cầu phát triển của Thành phố; bao gồm: (i) cơ chế ưu đãi, hỗ trợ phát triển hạ tầng, các tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; chuyển giao công nghệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thương mại hóa sản phẩm, kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ; sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu sản phẩm công nghệ số; phát triển tài sản số; nguồn lực cho hoạt động ươm tạo dự án khởi nghiệp sáng tạo…; (ii) cơ chế khuyến khích, hỗ trợ, tài trợ cho hoạt động thử nghiệm có kiểm soát; nguồn kinh phí bảo đảm cho hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào phê duyệt, hướng dẫn, kiểm soát quá trình thử nghiệm; việc sử dụng cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước, cơ sở hạ tầng, tài sản công để hỗ trợ thử nghiệm có kiểm soát…; (iii) cơ chế để phát triển khu công nghệ cao nhằm tạo môi trường tốt nhất cho việc nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ứng dụng công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất sản phẩm công nghệ cao và đổi mới sáng tạo; thử nghiệm, thí điểm về cơ chế, chính sách cho việc quản lý, phát triển công nghệ cao và các khu công nghệ cao trong cả nước…

(5) Phát triển văn hóa chưa tương xứng với vai trò nền tảng tinh thần. Công nghiệp văn hóa chưa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Chất lượng giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực, nhất là nhân lực công nghệ cao, chưa đáp ứng yêu cầu; hệ thống y tế còn áp lực lớn; an sinh xã hội chưa đồng đều; chất lượng sống giữa các khu vực còn chênh lệch.

Trong đó, nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế này một phần là do chưa có cơ sở pháp lý hiệu lực thực thi cao để phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục đào tạo, y tế, an sinh xã hội, bao gồm: (i) việc phát triển khu văn hóa, thể thao gắn với thương mại; khu trung tâm công nghiệp văn hóa, cụm, khu, tổ hợp văn hóa – sáng tạo; khu kinh tế đêm; các loại hình tổ chức, thiết chế văn hóa, thể thao khác; (ii) hỗ trợ cho học sinh, sinh viên, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nhằm khuyến khích người học và phát huy tâm huyết với nghề của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, qua đó nâng cao hơn chất lượng giáo dục trên địa bàn; (iii) hỗ trợ phát triển hệ thống y tế các cấp trên địa bàn Thành phố nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng khám chữa bệnh; thu hút người nước ngoài đến khám, chữa bệnh tại cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn Thành phố…; (iv) bảo đảm hiệu quả về an toàn thực phẩm; phát triển cơ sở hạ tầng dùng chung và hệ thống cơ sở dữ liệu trong quản lý thực phẩm và an toàn thực phẩm trên địa bàn Đô thị đặc biệt, vùng Đô thị đặc biệt…

(6) Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực còn hạn chế; công tác phối hợp chưa đồng bộ; kỷ luật, kỷ cương hành chính có lúc chưa nghiêm; còn tình trạng né tránh, sợ trách nhiệm. Tổ chức bộ máy chưa thật sự tinh gọn. Công tác cán bộ còn bị động trong quản lý, tuyển dụng, sử dụng, còn lệ thuộc vào số lượng do Trung ương phân bổ. Công tác dân vận, giải quyết khiếu nại, tố cáo có nơi chưa kịp thời.

Trong đó, nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế này một phần là do: (i) việc phân quyền, phân định thẩm quyền cho Thành phố chưa bảo đảm triệt để, toàn diện, phù hợp với nhu cầu, yêu cầu và điều kiện thực tiễn của Thành phố (ví dụ: về quyết định số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt theo phân loại đơn vị hành chính để phù hợp với yêu cầu thực hiện công tác quản lý tại địa bàn xã; chủ động trong quyết định tổng số lượng biên chế trên cơ sở tự cân đối, chi trả lương từ nguồn ngân sách Thành phố…); (ii) chưa có cơ chế cụ thể có tính linh hoạt phù hợp trong phạm vi pháp luật cho phép để phân cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được giao theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp pháp luật quy định không được phân cấp), bảo đảm tính chủ động gắn với trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao thực hiện nhiệm vụ; (iii) việc thực hiện thẩm quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố quy định trong VBQPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương còn gặp khó khăn do chưa bảo đảm phù hợp với nội dung, tính chất, mức độ quan trọng, gây áp lực và chậm trễ trong tổ chức thực hiện; (iv) công việc trong giải quyết thủ tục hành chính tại các cơ quan hành chính trên địa bàn thành phố có số lượng lớn, trong khi bộ máy, nhân lực làm việc tại các cơ quan này còn hạn chế dẫn đến chưa bảo đảm được hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, chưa tiết kiệm được thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp; nhiều công việc có tính chất đơn giản có thể giao cho tổ chức, cá nhân khác hỗ trợ thực hiện để giảm tải áp lực cho cơ quan hành chính nhưng chưa có cơ chế để thực hiện. Ngoài ra, với mức độ, tốc độ phát triển kinh tế và quy mô diện tích, dân số, Thành phố Hồ Chí Minh cũng cần có cơ chế, chính sách cho phép thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc những vấn đề chưa được pháp luật quy định để kịp thời giải quyết yêu cầu từ thực tiễn.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên mang tính cấu trúc, tập trung vào các điểm nghẽn lớn về thể chế, hạ tầng, nguồn lực và tổ chức thực hiện, là rào cản chủ yếu đối với mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của Thành phố trong thời gian qua và những tồn tại, hạn chế này càng bộc lộ rõ và càng trở nên cấp bách trong bối cảnh: (i) chính quyền địa phương 02 cấp hình thành và đi vào vận hành; (ii) Thành phố Hồ Chí Minh sau sắp xếp lại địa giới hành chính có diện tích và quy mô dân số lớn  với yêu cầu và tiềm năng về việc tái cấu trúc, đa cực, phát triển đô thị và không gian kinh tế của Thành phố, xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành siêu đô thị đa trung tâm, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường liên kết vùng, phát huy vai trò dẫn dắt phát triển đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước, đồng thời từng bước khẳng định vị thế của Thành phố trong mạng lưới đô thị và kinh tế toàn cầu.

3.2. Liên quan đến khu kinh tế đặc biệt

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 7.000 SEZs (Special economic zones), hay còn gọi là đặc khu kinh tế hoặc khu kinh tế đặc biệt tại hơn 140 quốc gia. Đây có thể được xem là một mô hình khu kinh tế đặc thù, đóng vai trò là “phòng thí nghiệm chính sách” để các quốc gia thử nghiệm thể chế đột phá, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, có sức cạnh tranh quốc tế nhằm thu hút hiệu quả các nguồn lực chiến lược và các mô hình kinh doanh tiên tiến, tạo ra các cực tăng trưởng nhằm đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế, tạo hiệu ứng lan tỏa và thúc đẩy phát triển các khu vực lân cận.

Qua nghiên cứu một số kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng mô hình khu kinh tế này có các đặc trưng về không gian riêng biệt, môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, được áp dụng các cơ chế, chính sách đột phá về hành chính và kinh tế nhằm tạo ra các cực tăng trưởng mang tính dẫn dắt.[1]

Tại Việt Nam, các khái niệm “đặc khu kinh tế” hay “khu kinh tế đặc biệt” chưa được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 của Quốc hội quy định “khu kinh tế” là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh.[2] Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế có quy định một số loại hình khu kinh tế như “khu kinh tế ven biển” là khu kinh tế được thành lập ở khu vực ven biển và địa bàn lân cận khu vực ven biển,[3] “khu kinh tế cửa khẩu” là khu kinh tế được thành lập ở khu vực biên giới đất liền và địa bàn lân cận khu vực biên giới đất liền;[4] và “khu kinh tế chuyên biệt” là khu kinh tế được thành lập ở vùng kinh tế trọng điểm, hành lang phát triển, khu vực động lực phát triển hoặc khu vực có vai trò tương tự được xác định trong quy hoạch vùng.[5]

Hiện nay, Việt Nam có 46 khu kinh tế được thành lập, trong đó có 20 khu kinh tế ven biển được thành lập với tổng diện tích khoảng 900 nghìn ha; đã quy hoạch 143,9 nghìn ha khu chức năng, trong đó xây dựng hạ tầng kỹ thuật khoảng 64,4 nghìn ha và cho thuê 21,82 nghìn ha để thực hiện dự án đầu tư sản xuất.

Với vị trí chiến lược ven biển, nhiều khu kinh tế có cảng biển loại I, cảng biển đặc biệt (Nghi Sơn, Dung Quất, Vân Phong, Vũng Áng…) và sân bay quốc tế 4E (Vân Đồn, Chu Lai, Phú Quốc), dân số vùng lân cận lớn (hàng trăm nghìn người) có khả năng cung cấp nguồn lao động dồi dào, góp phần thu hút các dự án FDI. Mặc dù vậy, diện tích cho thuê trong các khu kinh tế hiện nay còn thấp so với quỹ đất lớn; hạ tầng chưa hoàn thiện đồng bộ; tỷ lệ lấp đầy chưa cao. Một số khu kinh tế có quy mô lớn nhưng hoạt động còn hạn chế như các khu kinh tế Vân Đồn (217 nghìn ha), Vân Phong (150 nghìn ha), Nghi Sơn (106 nghìn ha), Đông Nam Nghệ An (104 nghìn ha). Tiềm năng phát triển tại các khu kinh tế ven biển cao nhờ vị trí địa lý thuận lợi, hạ tầng cảng – sân bay,… nên cần có một không gian thể chế mới, đặc biệt để đẩy mạnh thu hút nhà đầu tư chiến lược, hoàn thiện hạ tầng và cơ chế vượt trội để nâng hiệu quả đầu tư và sử dụng đất.

Bên cạnh đó, mô hình đặc khu tại Việt Nam theo quy định về tổ chức chính quyền địa phương là khái niệm chỉ đơn vị hành chính cấp xã được thành lập trên cơ sở sắp xếp các huyện đảo trước đây, phù hợp với điều kiện địa lý, tự nhiên, đặc điểm dân cư và và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Qua nghiên cứu thực trạng phát triển của 13 đặc khu cho thấy trình độ phát triển kinh tế tại các đặc khu có xu hướng không đồng đều, điển hình là giữa các đặc khu có điều kiện thuận lợi như Phú Quốc, Vân Đồn, Cát Hải và các đặc khu tiền tiêu, xa bờ có quy mô nhỏ, tăng trưởng thấp, chủ yếu dựa vào kinh tế tự cung tự cấp. Sự chênh lệch này phản ánh vai trò quyết định của hạ tầng, thể chế và liên kết vùng, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng khung chính sách riêng biệt, vừa phát huy vai trò “đầu tàu” của các đặc khu động lực, thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh theo định hướng về phát triển kinh tế biển Việt Nam.

Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một đạo luật có tính ổn định, lâu dài, đủ mạnh và mang tính đột phá để điều chỉnh toàn diện các vấn đề về: (1) phát triển của đô thị đặc biệt trong tầm nhìn chiến lược dài hạn đến các mốc năm 2030, 2045 và 2075, thay thế cách tiếp cận thí điểm, cục bộ hiện nay. Qua đó, thể chế hóa kịp thời các chủ trương, định hướng lớn của Đảng, tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ gắn với phân cấp, phân quyền tối đa, thực chất cho Thành phố, nâng cao tính chủ động, linh hoạt trong quản trị và phát triển đô thị, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới và mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, đặt nền tảng cho việc xác lập rõ vị thế, vai trò và khát vọng phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh với tư cách là cực tăng trưởng của cả nước, đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là đô thị đặc biệt mang tính toàn cầu với trung tâm tài chính, thương mại, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh trong khu vực và từng bước khẳng định vị trí trên bản đồ các đô thị lớn của thế giới; (2) cơ chế, chính sách cho xây dựng mô hình trên nền tảng các khu kinh tế hiện có và các đặc khu (đơn vị hành chính cấp xã) được hình thành từ các huyện đảo có tiềm năng nổi trội về kinh tế biển, đồng thời giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh, là yêu cầu có cơ sở và cấp thiết trong bối cảnh cả nước đang bước vào kỷ nguyên mới với yêu cầu rất cao về tăng trưởng. Mô hình này sẽ tạo lập không gian phát triển mới với cơ chế, chính sách vượt trội nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế về kinh tế biển, thu hút các dòng vốn đầu tư chất lượng cao, hình thành các cực tăng trưởng mới.

Từ các cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nêu trên, việc đề xuất xây dựng dự án Luật Phát triển đô thị là nhiệm vụ hết sức cấp bách và cần thiết trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với chủ trương của Đảng và yêu cầu thực tiễn phát triển của đô thị đặc biệt Thành phố Hồ Chí Minh, các thành phố và các khu kinh tế đặc biệt trong kỷ nguyên mới.

[1] Một số mô hình đặc khu điển hình trên thế giới: Đặc khu Thâm Quyến (Trung Quốc): trung tâm công nghệ, tài chính tầm cỡ thế giới; Đặc khu Jeju (Hàn Quốc): trung tâm du lịch quốc tế hàng đầu của Hàn Quốc, thu hút mạnh đầu tư vào du lịch, y tế và giáo dục; Đặc khu Dubai (UAE): nổi bật với ngành dịch vụ, du lịch, bất động sản, thương mại, logistics và tài chính, thu hút hàng triệu du khách và nhà đầu tư; Đặc khu Macau (Trung Quốc): tập trung vào ngành công nghiệp casino, giải trí; Đặc khu Singapore: trung tâm tài chính, thương mại, logistics và du lịch quốc tế sầm uất nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi.

[2] Khoản 17 Điều 3 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15.

[3] Khoản 14 Điều 2 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ.

[4] Khoản 15 Điều 2 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ.

[5] Khoản 16 Điều 2 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ.

PHẦN 2. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ

Luật Phát triển đô thị gồm 5 Chương, 66 Điều, bao quát trên các lĩnh vực với 7 nhóm chính sách đặc thù, vượt trội thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt.

Một trong những nhóm chính sách đáng chú ý là tổ chức bộ máy, chế độ công vụ và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Thành phố được trao một số quyền như: tự chủ quyết định tổng số lượng biên chế công chức, viên chức tăng thêm không quá 20% so với số biên chế Trung ương giao; quyết định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; quy định chính sách thu nhập cho cán bộ, công chức, thuê, bổ nhiệm người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công lập;…

Bên cạnh đó, Thành phố được quy định khác với văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, kể cả việc chọn áp dụng các cơ chế, chính sách vượt trội của các địa phương, lĩnh vực khác.

Đề cương tuyên truyền Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Điểm mới Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2025

Đồng thời, sau khi có ý kiến của cấp cơ thẩm quyền, Thành phố được quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội, hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định (trừ các lĩnh vực thuộc chủ quyền quốc gia gồm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tôn giáo) với thời hạn thí điểm tối đa 5 năm.

Trong lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị và trật tự an toàn đô thị, Thành phố lập duy nhất một Quy hoạch tổng thể; phân cấp mạnh hơn cho Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định việc lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch không gian ngầm, không gian tầm thấp và không gian tầm cao, mở ra dư địa mới để khai thác hiệu quả nguồn lực tài nguyên lòng đất và trên không.

Đồng thời, Thành phố quyết định chỉ định chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội, nhà lưu trú đối với quỹ đất do Nhà nước quản lý mà không phụ thuộc vào một số quy định nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác an sinh xã hội.

TP.HCM được phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu dự án

Về phát triển kinh tế, Luật trao thẩm quyền cho Thành phố quyết định thành lập, điều chỉnh ranh giới khu thương mại tự do gắn với hệ thống cảng biển quốc tế.

Tại đây, nhà đầu tư nước ngoài được miễn thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước khi thành lập tổ chức kinh tế và không cần phải có dự án đầu tư. Đồng thời, cho phép phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu dự án để huy động vốn; cấp phép ngân hàng đầu tư và tổ chức các giao dịch, dịch vụ tài chính thế hệ mới.

Ngoài ra, Luật giao Thành phố quy định mở rộng đối tượng, điều kiện tham gia và cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện với khách hàng sử dụng điện trong phạm vi quản lý của Thành phố.

Thành phố cũng có thẩm quyền quy định các cơ chế ưu đãi đặc thù cho  kinh tế ban đêm; đồng thời, thực hiện cơ chế đặt hàng, đấu thầu sáng tác các tác phẩm văn hóa nghệ thuật có giá trị tư tưởng cao.

Về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Luật giao Thành phố quy định tiêu chí và cơ chế, chính sách cho khu đô thị khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; lĩnh vực, tiêu chí, điều kiện, trình tự thủ tục, nội dung, mức hỗ trợ không hoàn lại từ nguồn chi thường xuyên của ngân sách Thành phố.

Thành phố được phép thiết lập khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với các công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và các mô hình kinh doanh số chưa từng có tiền lệ để đón đầu xu thế công nghệ toàn cầu.

Luật cũng quy định rõ về nguồn lực phát triển đô thị đặc biệt, nhất là các khoản thu khác theo quy định tại Luật mà chưa được quy định trong pháp luật về ngân sách nhà nước là nguồn thu Thành phố được hưởng toàn bộ.

Hơn nữa, Thành phố được trao quyền quyết định chủ trương đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư; quyết định cơ chế, chính sách đặc biệt khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để thực hiện một số dự án đầu tư; quy định cơ chế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án….

Thành phố được quyết định chỉ tiêu sử dụng đất trong phạm vi địa bàn (trừ đất quốc phòng, an ninh); được sử dụng ngân sách địa phương triển khai dự án giải phóng mặt bằng độc lập trước khi phê duyệt chủ trương đầu tư dự án chính.

Đối với liên kết, phát triển vùng, Luật xác lập TP.HCM là hạt nhân điều phối toàn bộ vùng đô thị đặc biệt và vùng Đông Nam bộ; đồng thời quy định việc đầu tư, quản lý Dự án liên kết, phát triển vùng, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu vùng đô thị đặc biệt.

Tăng quyền đi cùng giám sát, trách nhiệm giải trình

Ngoài các quy định nêu trên, Luật còn có một số nội dung trọng tâm, cốt lõi về , cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế đặc biệt và cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình.

Cụ thể, Luật quy định các nội dung về công nhận, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn chính quyền tại khu kinh tế đặc biệt; về quy hoạch, xây dựng ở khu kinh tế đặc biệt; phát triển kinh tế biển; khu phi thuế quan và hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế trong khu kinh tế đặc biệt.

Với thẩm quyền được phân cấp thêm cho đô thị đặc biệt, Luật thiết kế một số quy định về giám sát, thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm giải trình nhằm kiểm soát đồng bộ quyền lực, chặt chẽ trong quá trình thực hiện Luật.

Luật còn quy định cơ chế loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý, bảo vệ cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc khác vì lợi ích chung trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, hoạt động công vụ do cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền giao mà gây ra thiệt hại nhưng được cơ quan có thẩm quyền kết luận không phải do vụ lợi và vì sự phát triển chung của Thành phố.

 

Giới thiệu Đề cương Tuyên truyền

Đề cương tuyên truyền pháp luật (trang web thành viên của https://trangtinphapluat.com): Nơi cung cấp các đề cương tuyên truyền, nghiệp vụ tuyên truyền pháp luật Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *