Tình huống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính

Decuongtuyentruyen.com giới thiệu 5 tình huống pháp luật liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin; trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; trong lĩnh vực điện lực; trong lĩnh vực y tế; trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em

Tình huống 1

Anh K là chủ một quán Internet công cộng. Mặc dù biết một số máy tính trong quán thường xuyên được khách hàng sử dụng để truy cập các trang web chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy nhưng anh K không có biện pháp ngăn chặn hoặc xử lý.

Trong trường hợp này, hành vi của anh K có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?

Đáp:

Theo điểm đ khoản 3 Điều 36 Nghị định số 174/2026/NĐ-CP ngày 15/05/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin, cụ thể:

“…

  1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

đ) Để người sử dụng Internet truy cập, xem, tải các thông tin, hình ảnh, phim có nội dung đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan.

…”

Giới hạn tự do ngôn luận trên internet
Xử phạt hành chính trên lĩnh vực internet

Đối chiếu với trường hợp của anh K, việc không thực hiện các biện pháp quản lý, ngăn chặn để khách hàng sử dụng máy tính tại quán truy cập các trang web có nội dung khiêu dâm, đồi trụy là hành vi vi phạm quy định về trách nhiệm của điểm truy cập Internet công cộng. Do đó, anh K có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo quy định nêu trên và cơ sở kinh doanh còn có thể bị đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng theo khoản 4 Điều 36 Nghị định số 174/2026/NĐ-CP.

Tình huống 2

Ông A đến Văn phòng công chứng X để thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi kiểm tra hồ sơ, công chứng viên B thông báo ngoài khoản phí công chứng theo quy định và chi phí đã được thỏa thuận, ông A phải đưa thêm 2.000.000 đồng thì hồ sơ mới được giải quyết nhanh trong ngày. Lo ngại việc công chứng bị kéo dài, ông A đã nộp khoản tiền này.

Trong trường hợp này, hành vi của công chứng viên B có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?

Đáp:

Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 16 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi “nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, phí, giá dịch vụ theo yêu cầu liên quan đến việc công chứng đã được xác định và chi phí khác đã thỏa thuận” là hành vi vi phạm pháp luật.

Đối chiếu với trường hợp của công chứng viên B, việc yêu cầu ông A nộp thêm tiền ngoài các khoản phí, giá dịch vụ và chi phí đã được xác định, thỏa thuận là hành vi vi phạm quy định về hoạt động hành nghề công chứng.

Do đó, công chứng viên B có thể bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP. Ngoài ra, công chứng viên B còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm theo quy định tại điểm b khoản 9 Điều 16 Nghị định này.

 

Tình huống 3

Gia đình ông A sử dụng điện sinh hoạt tại một căn nhà cho thuê. Trong quá trình kiểm tra hệ thống điện, đơn vị điện lực phát hiện nhiều đoạn dây dẫn điện trong nhà đã bị bong tróc lớp cách điện, một số ổ cắm điện bị cháy xém, có nguy cơ gây chập điện và mất an toàn cho người sử dụng. Mặc dù đã được nhắc nhở, ông A vẫn không tiến hành sửa chữa, thay thế các dây dẫn và thiết bị điện hư hỏng này.

Trong trường hợp này, hành vi của ông A có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?

Đáp:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 19 Nghị định số 133/2026/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, hành vi “không sửa chữa, thay thế dây dẫn, thiết bị điện không bảo đảm chất lượng trong hệ thống điện của nhà ở và công trình” là hành vi vi phạm pháp luật.

xử phạt hành chính đối với người chưa thành niên
xử phạt hành chính đối với người chưa thành niên

Đối chiếu với trường hợp của ông A, việc tiếp tục sử dụng hệ thống điện có dây dẫn và thiết bị điện không bảo đảm chất lượng nhưng không thực hiện sửa chữa, thay thế mặc dù đã phát hiện nguy cơ mất an toàn là hành vi vi phạm quy định về an toàn trong sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt, dịch vụ.

Do đó, ông A có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định số 133/2026/NĐ-CP.

Ngoài ra, ông A còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc cải tạo, thay thế, lắp đặt, sử dụng dây dẫn, thiết bị điện đáp ứng đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định theo khoản 3 Điều 19 Nghị định số 133/2026/NĐ-CP.

Tình huống 4

Bà H là dược sĩ đã được cấp Chứng chỉ hành nghề dược. Do quen biết với ông B đang chuẩn bị mở quầy thuốc nhưng chưa có Chứng chỉ hành nghề dược, bà H đã cho ông B mượn Chứng chỉ hành nghề dược của mình để hoàn thiện hồ sơ và tổ chức hoạt động kinh doanh thuốc. Trong thời gian này, bà H không trực tiếp tham gia hoạt động chuyên môn tại quầy thuốc của ông B.

Qua thanh tra, cơ quan chức năng phát hiện việc ông B sử dụng Chứng chỉ hành nghề dược của bà H để hành nghề dược. Hành vi của bà H có vi phạm pháp luật không và bị xử lý như thế nào?

Đáp:

Theo điểm g khoản 2 Điều 52 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, hành vi cho thuê, cho mượn hoặc cho người khác sử dụng Chứng chỉ hành nghề dược để hành nghề dược là hành vi vi phạm pháp luật.

Đối chiếu với tình huống nêu trên, bà H đã cho ông B mượn Chứng chỉ hành nghề dược của mình để phục vụ hoạt động hành nghề dược. Đây là hành vi vi phạm quy định về hành nghề dược. Do đó, bà A có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP.

Ngoài ra, nếu bà H có nhận tiền hoặc thu được lợi ích từ việc cho mượn Chứng chỉ hành nghề dược thì còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được theo quy định tại khoản 5 Điều 52 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP.

Mẫu quyết định cách ly y tế tại nhà
Xử phạt hành chính lĩnh vực y tế

Tình huống 5

Bà B là nhân viên của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trong quá trình làm việc, bà B biết được em M (12 tuổi) đang điều trị một căn bệnh cần được giữ kín thông tin cá nhân. Sau đó, bà B đã kể cho nhiều người trong khu dân cư về tình trạng bệnh của em M và cung cấp một số thông tin trong hồ sơ bệnh án của em.

Cha mẹ em M phát hiện sự việc và cho rằng việc tiết lộ thông tin này đã ảnh hưởng đến tâm lý và đời sống riêng tư của con mình. Hành vi của bà B có vi phạm pháp luật không và bị xử lý như thế nào?

Đáp:

Theo khoản 1 Điều 32 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em, hành vi công bố, tiết lộ thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong bệnh án của trẻ em mà không được sự đồng ý của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em, người giám hộ của trẻ em và trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên là hành vi vi phạm pháp luật.

Đối chiếu với tình huống nêu trên, bà B đã tiết lộ thông tin về tình trạng sức khỏe và thông tin trong bệnh án của em M cho người khác khi chưa được sự đồng ý của cha mẹ em M và của em M. Đây là hành vi công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em trái quy định của pháp luật.

Do đó, bà B có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP.

Ngoài ra, nếu có yêu cầu, bà B buộc phải xin lỗi theo quy định. Trường hợp các thông tin này được đăng tải hoặc lưu hành trên các phương tiện thông tin thì còn buộc phải thu hồi, xóa, gỡ bỏ các thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em đã công bố trái quy định.

Tình huống 27: Ông C gom góp số ngoại tệ do người thân gửi từ nước ngoài về được tổng 2.000 đôla Mỹ. Nay có công việc cần nên ông đem số ngoại tệ này sang hàng xóm là bà X để bán. Cả hai người nghĩ đây là khoản ngoại tệ có giá trị không quá lớn nên đã tự thỏa thuận mua bán với nhau. Hành vi của ông C và bà X có đúng quy định pháp luật hay không? Nếu không thì sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Khoản 2 Điều 27 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (có hiệu lực thi hành từ ngày 09/02/2026) quy định như sau:

“Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 1.000 đôla Mỹ đến dưới 10.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần;

  1. b) Mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 1.000 đôla Mỹ đến dưới 10.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần;

c) Thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần; thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị từ 1.000 đôla Mỹ đến dưới 10.000 đôla Mỹ (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật.

 Như vậy, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP, việc cá nhân ông C và bà X thực hiện hành vi mua bán 2.000 đôla Mỹ bị xem là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Đồng thời, bị tịch thu số ngoại tệ, đồng Việt Nam liên quan hành vi vi phạm (theo điểm a khoản 10 Điều 27 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt bổ sung đối với hành vi vi phạm về hoạt động ngoại hối).

Tình huống 28: Anh K là sinh viên một trường đại học. Để có thêm thu nhập, anh K đã nghe lời một số đối tượng trên mạng và cho thuê tài khoản thanh toán ngân hàng của mình với giá 500.000 đồng/tháng. Nhóm đối tượng này đã sử dụng tài khoản của anh K cho thuê để thực hiện hành vi rửa tiền. Anh K cho rằng mình không biết đến việc rửa tiền nên không có trách nhiệm liên quan. Hỏi: Hành vi của anh K có vi phạm pháp luật không? Nếu có thì bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Khoản 5 Điều 30 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (có hiệu lực thi hành từ ngày 09/02/2026) quy định như sau:

“Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán hoặc mua, bán thông tin tài khoản thanh toán với số lượng từ 01 tài khoản thanh toán đến dưới 10 tài khoản thanh toán mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Làm giả chứng từ thanh toán khi cung ứng, sử dụng dịch vụ thanh toán mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

c) Không ban hành các cơ chế quản lý rủi ro đối với từng loại hình cung ứng dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật;

d) Thực hiện cung ứng dịch vụ thanh toán khi chưa ký hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng văn bản theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 30 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP, dù không biết đến việc rửa tiền của các đối tượng khác thì hành vi cho thuê tài khoản thanh toán của anh K vẫn là hành vi vi phạm pháp luật và bị phạt tiền 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng. Đồng thời, căn cứ điểm a khoản 10 Điều 30 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP, anh K còn phải nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi cho thuê tài khoản.

Ngoài ra, anh K hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 291 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng nếu thuộc các trường hợp sau:

“1. Người nào thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

Trắc nghiệm tìm hiểu Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trắc nghiệm tìm hiểu Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

a) Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 50 tài khoản đến dưới 200 tài khoản;

b) Có tổ chức;

c) Có tính chất chuyên nghiệp;

d) Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm

  1. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng 200 tài khoản trở lên;

b) Thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Tình huống 32: Ông N là đại diện một doanh nghiệp có tài sản thanh lý thông qua đấu giá. Khi đăng tải thông tin về chiếc xe ô tô đưa ra đấu giá, ông N biết xe đã từng bị tai nạn nghiêm trọng và đã thay thế nhiều bộ phận quan trọng nhưng vẫn cố tình giới thiệu đây là xe chưa từng va chạm nhằm thu hút người tham gia và bán được giá cao hơn. Sau khi người trúng đấu giá phát hiện sự việc và khiếu nại, cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh, làm rõ hành vi của ông N. Trong trường hợp này, hành vi của ông N có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 29 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi “đưa thông tin không đúng về tài sản đấu giá nhằm mục đích trục lợi” là hành vi vi phạm pháp luật.

Đối chiếu với trường hợp của ông N, việc cố tình cung cấp thông tin sai lệch về tình trạng thực tế của chiếc xe đưa ra đấu giá nhằm làm tăng giá trị tài sản và thu lợi là hành vi vi phạm quy định về hoạt động đấu giá tài sản.

Do đó, ông N có thể bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP. Nếu thu được khoản lợi bất hợp pháp từ hành vi vi phạm thì còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp đó theo quy định của pháp luật.

Tình huống 33: Ông P là người phải thi hành án theo một bản án dân sự của Tòa án về việc thanh toán khoản nợ cho bà T. Mặc dù có đủ khả năng tài chính và đang sở hữu một căn nhà cùng nhiều tài sản có giá trị, ông P vẫn cố tình chuyển quyền sở hữu chiếc ô tô của mình cho người thân nhằm tránh việc cơ quan thi hành án kê biên tài sản để thi hành án. Sau quá trình xác minh, cơ quan thi hành án dân sự phát hiện việc chuyển nhượng này được thực hiện nhằm mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Trong trường hợp này, hành vi của ông P có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 65 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi “tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản” là hành vi vi phạm pháp luật.

Đối chiếu với trường hợp của ông P, việc chuyển quyền sở hữu chiếc ô tô cho người thân nhằm tránh việc kê biên tài sản để thi hành án là hành vi tẩu tán tài sản, làm ảnh hưởng đến việc bảo đảm thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

Do đó, ông P có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 65 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP. Ngoài ra, ông P còn bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản đã tẩu tán theo quy định tại điểm a khoản 8 Điều 65 Nghị định này để bảo đảm việc thi hành án được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tình huống 34: Chị Q do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đã thỏa thuận với một cặp vợ chồng hiếm muộn để mang thai hộ và nhận số tiền 300.000.000 đồng sau khi sinh con. Việc mang thai hộ này không nhằm mục đích nhân đạo mà hoàn toàn vì lợi ích vật chất của các bên. Sau khi sự việc bị phát hiện, cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác minh hành vi của chị Q. Trong trường hợp này, hành vi của chị Q có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ khoản 1 Điều 63 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi thực hiện mang thai hộ vì mục đích thương mại là hành vi vi phạm pháp luật.

Đối chiếu với trường hợp của chị Q, việc nhận tiền để mang thai hộ cho người khác không xuất phát từ mục đích nhân đạo mà nhằm thu lợi vật chất là hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại, vi phạm quy định của pháp luật về sinh con.

Do đó, chị Q có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP. Ngoài ra, chị Q còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ việc mang thai hộ vì mục đích thương mại theo quy định tại khoản 2 Điều 63 Nghị định này.

Tình huống 36: Anh T là người quản lý một trang mạng xã hội chuyên đăng tải các câu chuyện về hoàn cảnh khó khăn để kêu gọi quyên góp. Biết em V là người khuyết tật vận động có hoàn cảnh khó khăn, anh T đã tự ý sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân và tình trạng sức khỏe của em V để đăng tải lên mạng xã hội nhằm vận động tiền từ thiện. Tuy nhiên, số tiền nhận được chủ yếu được anh T sử dụng vào mục đích cá nhân và không chuyển đầy đủ cho em V. Sau khi sự việc bị phát hiện, cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành xác minh, làm rõ hành vi của anh T. Trong trường hợp này, hành vi của anh T có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ khoản 3 Điều 13 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em, hành vi lợi dụng hình ảnh, thông tin cá nhân, tình trạng của người khuyết tật để trục lợi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự là hành vi vi phạm pháp luật.

Đối chiếu với trường hợp của anh T, việc tự ý sử dụng hình ảnh và thông tin cá nhân của em V để kêu gọi quyên góp rồi sử dụng số tiền nhận được vào mục đích cá nhân là hành vi lợi dụng tình trạng của người khuyết tật để trục lợi, vi phạm quy định của pháp luật.

Do đó, anh T có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP. Ngoài ra, anh T còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 13 Nghị định này.

Giới thiệu Đề cương Tuyên truyền

Đề cương tuyên truyền pháp luật (trang web thành viên của https://trangtinphapluat.com): Nơi cung cấp các đề cương tuyên truyền, nghiệp vụ tuyên truyền pháp luật Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *