Đề cương tuyên truyền Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026

Sáng nay, 24/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, với 471/472 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 94,2% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).

I.   SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ NĂM 2026

1.   Cơ sở chính trị, pháp lý

a) Cơ sở chính trị

Thời gian qua, các chủ trương, đường lối của Đảng đã luôn xác định đầy đủ và nhất quán về vị trí, vai trò của công tác hòa giải ở cơ sở, xem đây là phương thức giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp hiệu quả, góp phần phát huy dân chủ ở cơ sở, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, giữ vững ổn định chính trị – xã hội tại cơ sở.

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm giai đoạn 2021-2030 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp “Phát huy đúng vai trò giám sát, phản biện xã hội, các hình thức tự quản của cộng đồng, các phương thức hòa giải cấp cơ sở”.

Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định “Nâng cao hiệu quả các cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án” (trong đó có hòa giải ở cơ sở) là một trong những giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tiếp đó, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cũng xác định nhiệm vụ “Hình thành các mô hình tự quản – tự chủ – tự giám sát ở cộng đồng dân cư, gắn kết chặt chẽ giữa chính quyền và Nhân dân, thực hành phát huy dân chủ tại cơ sở”. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp: “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực để xã hội hóa và phát triển các lĩnh vực công chứng, hòa giải, trọng tài, thừa phát lại, giám định tư pháp; xây dựng đội ngũ hành nghề công chứng, hòa giải, trọng tài, thừa phát lại, giám định tư pháp đủ về số lượng và bảo đảm chất lượng, hoạt động chuyên nghiệp, tuân thủ pháp luật và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội”. Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc khẳng định một trong những nhiệm vụ, giải pháp đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội; đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước là “Nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở, hoà giải, giám sát của Nhân dân tại cộng đồng. Chú trọng bồi dưỡng, hướng dẫn, phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng”. Đặc biệt, ngày 30/4/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW), trong đó tiếp tục khẳng định yêu cầu kết hợp hài hòa giữa các phương thức tố tụng tư pháp và phi tố tụng tư pháp trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó có công tác hòa giải ở cơ sở. Nghị quyết đặt ra yêu cầu: Khẩn trương sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, gắn với phân cấp, phân quyền tối đa”. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 66-NQ/TW cũng đề ra chủ trương: “Tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật”. Để thực hiện chủ trương này hòa giải cơ sở là một trong những thiết chế quan trọng tại cơ sở góp phần xây dựng văn hóa pháp lý. Các Nghị quyết về phát triển văn hóa[1]; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số[2] được ban hành và triển khai trong thời gian qua cũng có những tác động, yêu cầu phải đổi mới công tác hòa giải ở cơ sở.

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026

Ngày 10/3/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 09-KL/TW về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Kết luận số 09-KL/TW yêu cầu “các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể là các cá nhân, tổ chức không mang quyền lực nhà nước (quy phạm pháp luật tư) được thiết kế theo hướng chủ yếu đặt ra khung pháp lý mang tính nguyên tắc; các nội dung cụ thể để các chủ thể tự thỏa thuận trên cơ sở nhu cầu, lợi ích, quyền tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm của mình trên tinh thần không vi phạm điều cấm của luật, phát huy tính năng động, sáng tạo của người dân, doanh nghiệp, tạo động lực quan trọng để huy động mọi nguồn lực, khơi dậy mọi tiềm năng phục vụ phát triển đất nước”. Định hướng này phù hợp với bản chất của hòa giải ở cơ sở là giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, quyền tự định đoạt của các bên có mâu thuẫn, tranh chấp. Việc hoàn thiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở cần bảo đảm tính linh hoạt, tạo điều kiện để hòa giải viên vận dụng phù hợp các yếu tố xã hội như phong tục, tập quán, lẽ công bằng trong quá trình hòa giải, đồng thời bảo đảm không trái quy định của pháp luật.

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp theo các kết luận của Bộ Chính trị[3], việc hoàn thiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở cần được thực hiện đồng bộ, phù hợp với tổ chức bộ máy mới.

b) Cơ sở pháp lý

Hiến pháp năm 2013 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 203/2025/QH15) quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (Điều 28); “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng” (Điều 46).

          Trong thời gian qua, một số bộ luật, luật được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung trong đó quy định khuyến khích sử dụng biện pháp hòa giải trước khi áp dụng các biện pháp tư pháp chính thống như Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025)[4], Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015[5], Luật Đất đai năm 2024[6], Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014[7], Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022[8], Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023[9], Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024[10]… Các quy định mới về vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo[11]; các yêu cầu đổi mới phương thức quản trị nhà nước theo hướng hiện đại, hiệu quả, kiến tạo, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm” nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã đặt ra yêu cầu đổi mới công tác hòa giải ở cơ sở. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội khoá XV quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước nêu rõ: “Cơ quan, người có thẩm quyền phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật… để xử lý các văn bản chịu sự tác động do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, bảo đảm hoàn thành trước ngày 01 tháng 3 năm 2027”.

Ngày 11/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong đó xác định: “Đẩy mạnh công tác hòa giải ở cơ sở gắn với phát huy vai trò tự quản của người dân” là một trong những nhiệm vụ của Chính phủ trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, phục vụ Nhân dân. Chính vì vậy, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác này, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật là nhiệm vụ cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới, góp phần thiết thực vào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Những cơ sở chính trị, pháp lý nêu trên đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu xây dựng Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ, tiếp tục đẩy mạnh công tác hòa giải ở cơ sở gắn với phát huy vai trò tự quản của người dân, đồng thời, bảo đảm tính thống nhất với các luật, nghị quyết có liên quan và phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy, kỹ thuật lập pháp hiện nay. Ngày 26/9/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 về Chương trình lập pháp năm 2026, trong đó giao Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án Luật Hoà giải ở cơ sở (sửa đổi) vào tháng 8/2026 và trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XVI (dự kiến tháng 10/2026). Tiếp đó, ngày 24/10/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2352/QĐ-TTg phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026, trong đó giao Bộ Tư pháp là cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật nêu trên (trình Chính phủ vào tháng 6/2026). Ngày 21/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 134/NQ-CP thông qua 05 chính sách của Luật Hoà giải ở cơ sở (sửa đổi) là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc soạn thảo dự thảo Luật.

2. Cơ sở thực tiễn

Với vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng trong giải quyết xung đột, hòa giải các mâu thuẫn trong nội bộ Nhân dân, ngày 20/6/2013, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật Hoà giải ở cơ sở. Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện, vững chắc cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đi vào nền nếp, thống nhất, hiệu quả và tiếp tục khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Tính đến ngày 31/12/2025, cả nước có 85.855 tổ hòa giải, 547.235 hòa giải viên; hầu hết mỗi thôn, tổ dân phố có 01 tổ hòa giải. Trong giai đoạn 2014 – 2025, cả nước tiếp nhận 1.528.936 vụ, việc hòa giải (trung bình 127.411 vụ, việc/năm), trong đó, hòa giải thành 1.239.367/1.513.084 vụ, việc đã tiến hành hòa giải (trung bình 103.280 vụ, việc/năm), đạt tỷ lệ 81,92%[12]. Thực tiễn 12 năm thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở cho thấy, ở những địa phương làm tốt công tác hòa giải cơ sở thì tình hình an ninh, trật tự được giữ vững, góp phần ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật. Thông qua công tác hòa giải ở cơ sở, những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh tại cơ sở đã được giải quyết kịp thời, dứt điểm; không để tranh chấp kéo dài, khó xử lý, hạn chế đáng kể tình trạng khiếu kiện ra cơ quan nhà nước, khiếu kiện vượt cấp; góp phần xây dựng khối đoàn kết cộng đồng bền vững, khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa nhân văn sâu sắc của công tác hòa giải ở cơ sở trong giữ gìn, vun đắp tình làng, nghĩa xóm, xây dựng cơ sở, khu dân cư ngày càng ấm no, yên bình, hạnh phúc.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, qua hơn 12 năm thực hiện, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể như sau:

Thứ nhất, thiếu quy định về cơ chế “chỉ định hòa giải viên”, quyền và nghĩa vụ của hoà giải viên ở cơ sở chưa được quy định đầy đủ

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc lựa chọn hòa giải viên ở cơ sở được thực hiện thông qua tổ chức bầu hòa giải viên tại thôn, tổ dân phố với trình tự, thủ tục cụ thể, chặt chẽ, bảo đảm nguyên tắc dân chủ, công khai và minh bạch như thành lập Tổ bầu hòa giải viên, lập danh sách dự kiến những người được bầu làm hòa giải viên, niêm yết công khai danh sách bầu, tổ chức bầu hòa giải viên (bằng hình thức tổ chức cuộc họp (để biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín) hoặc phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình). Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy một số trường hợp không thể tổ chức bầu được do nhiều nguyên nhân, trong khi cần bổ sung ngay hòa giải viên để đáp ứng yêu cầu thực tiễn hoặc đã tổ chức bầu hoà giải viên nhưng vẫn không đủ số lượng và thành phần theo quy định. Điều này dẫn đến trên thực tiễn đã xuất hiện cách làm mang tính “linh hoạt” khi nhiều địa phương chủ động lựa chọn, giao nhiệm vụ hòa giải cho các chức danh có sẵn như trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng ban công tác Mặt trận. Việc pháp luật chưa ghi nhận cơ chế chỉ định nên một số địa phương vẫn phải tổ chức họp dân để bầu lại hoà giải viên nhằm “hợp thức hóa” thủ tục theo quy định. Cách làm này khiến quy trình bầu hoà giải viên trở nên hình thức, thiếu thực chất, vừa tốn thời gian, nguồn lực, vừa làm giảm ý nghĩa của cơ chế dân chủ, tự quản ở cộng đồng.

Việc bổ sung quy định chỉ định hoà giải viên bảo đảm phù hợp, nhất là trong bối cảnh đội ngũ hoà giải viên thường xuyên biến động do nhiều nguyên nhân như tuổi cao, sức khỏe, điều kiện cá nhân dẫn đến nhu cầu bổ sung, thay thế diễn ra khá thường xuyên. Đặc biệt, tại các địa bàn miền núi, biên giới, nơi điều kiện đi lại khó khăn, khoảng cách địa lý giữa các hộ dân rất xa, việc tổ chức họp hoặc phát phiếu và thu phiếu bầu hoặc bầu trực tuyến càng trở nên vất vả, tốn kém thời gian, công sức và không phù hợp với điều kiện thực tế địa bàn hoặc trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh, sự kiện bất khả kháng khác không thể tổ chức bầu hòa giải viên theo quy định… Vì vậy, việc bổ sung quy định về chỉ định hòa giải viên trong những trường hợp nhất định với điều kiện rõ ràng là cần thiết nhằm bảo đảm tính linh hoạt, kịp thời trong tổ chức hoạt động hòa giải, đồng thời khắc phục tình trạng “đối phó” về thủ tục đang tồn tại trong thực tiễn.

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã quy định tương đối rõ về quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên. Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai, các quy định này bộc lộ một số hạn chế ảnh hưởng trực tiếp đến động lực, trách nhiệm và chất lượng hoạt động của đội ngũ hòa giải viên. Một số quyền quan trọng chưa được ghi nhận rõ như quyền mời người có uy tín tham gia hòa giải, quyền đề nghị cơ quan, tổ chức hỗ trợ chuyên môn pháp luật, được nhận quyết định công nhận kết quả hoà giải thành của Toà án nhân dân có thẩm quyền đối với các vụ, việc do mình trực tiếp hoà giải (nếu có), đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp xã, lực lượng Công an cấp xã có phương án bảo đảm an ninh trật tự khi tiến hành vụ việc hoà giải trong trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của các bên, của hoà giải viên hoặc gây mất trật tự công cộng, được hỗ trợ về hạ tầng kỹ thuật và hướng dẫn kỹ năng số khi thực hiện các hoạt động hòa giải trên môi trường mạng hoặc ứng dụng các nền tảng số trong quản lý hồ sơ hòa giải… Quy định về nghĩa vụ của đội ngũ hoà giải viên còn chung chung, chưa bao quát đầy đủ và tản mát ở nhiều điều luật. Đáng chú ý, việc thiếu quy định nghĩa vụ cung cấp tài liệu làm cơ sở cho việc xét đơn yêu cầu công nhận kết quả hoà giải thành ngoài Tòa án trong trường hợp được Toà án nhân dân có thẩm quyền yêu cầu theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đồng nghĩa với thiếu cơ chế gắn kết trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan Tòa án. Vấn đề này đã tạo ra “điểm nghẽn” trong quy trình công nhận kết quả hòa giải thành, làm giảm hiệu lực thi hành của các văn bản về kết quả hòa giải thành và ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các bên mâu thuẫn, tranh chấp. Mặt khác, khi nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng, tập huấn của hòa giải viên chưa được luật hóa thành chế định bắt buộc, chất lượng nguồn nhân lực hòa giải viên sẽ dần không đáp ứng được yêu cầu của các loại hình tranh chấp mới phát sinh trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, gây lãng phí nguồn lực đầu tư của Nhà nước và dần suy giảm niềm tin của Nhân dân vào thiết chế hòa giải ở cơ sở.

Thứ hai, phạm vi tham gia và quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hoà giải ở cơ sở chưa được quy định rõ ràng, cụ thể

Tổng hợp tình huống hòa giải tranh chấp đất đai
Tổng hợp tình huống hòa giải tranh chấp đất đai

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã quy định cho phép mời người có trình độ, uy tín tham gia phối hợp trong công tác hòa giải ở cơ sở, song việc thiếu hụt các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của nhóm đối tượng này đang tạo ra những rào cản lớn trong thực thi. Phạm vi, hình thức tham gia của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở chưa được quy định rõ nét, dẫn đến tình trạng lúng túng trong việc xác định phạm vi trách nhiệm, giới hạn tham gia cũng như các quyền lợi liên quan. Sự thiếu vắng cơ chế pháp lý này không chỉ khiến các hòa giải viên e ngại khi huy động nguồn lực bên ngoài tham gia hỗ trợ mà còn làm giảm trách nhiệm của người được mời, khiến vai trò của đối tượng này đôi khi chỉ mang tính hình thức. Việc chưa quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở đã làm hạn chế hiệu quả của việc huy động trí tuệ, kinh nghiệm của những người có trình độ pháp lý, có kiến thức chuyên ngành trong các lĩnh vực, có kiến thức xã hội và những người có uy tín trong cộng đồng vào việc giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn tại cơ sở.

Vì vậy, cần phải làm rõ phạm vi tham gia và quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở để bảo đảm hòa giải viên nhận được sự hỗ trợ của người có uy tín, có trình độ pháp lý, có kiến thức chuyên ngành trong các lĩnh vực, có kiến thức xã hội, hiểu phong tục, tập quán địa phương… tham gia hoạt động hòa giải, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở.

Thứ ba, về quy định yêu cầu công nhận kết quả hoà giải thành ở cơ sở

Với 85.855 tổ hòa giải và hơn 547.235 hòa giải viên trên cả nước, hằng năm các tổ hòa giải ở cơ sở đã tiến hành hòa giải hơn 127.411 vụ việc, tỷ lệ hòa giải thành đạt 81,92%[13]. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013, các bên không bắt buộc phải lập văn bản về kết quả hoà giải thành trong trường hợp đạt được thỏa thuận[14]. Để thực hiện thỏa thuận hòa giải thành, bên cạnh việc hòa giải viên theo dõi sát sao, khéo léo vận động để các bên tuân thủ kết quả hòa giải thì phần lớn là phụ thuộc vào ý thức, sự tự nguyện thực hiện thỏa thuận của các bên mâu thuẫn, tranh chấp. Nhiều khi một bên hoặc các bên mâu thuẫn, tranh chấp không thực sự có thiện chí, chấp nhận hòa giải thành nhưng không thực hiện đúng thỏa thuận hòa giải, những trường hợp này hòa giải viên hoặc tổ hòa giải rất khó tác động do không có cơ sở để đôn đốc các bên thực hiện thoả thuận. Trên thực tế, nhiều vụ việc đã hòa giải thành, sau một thời gian các bên thực hiện không đúng thỏa thuận lại tái phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn theo hướng phức tạp hơn, việc hòa giải lại khó đạt kết quả hơn, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trong cộng đồng dân cư.

Mặc dù việc yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án đã được quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuy nhiên trên thực tế số lượng vụ, việc được các bên yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành còn thấp. Theo số liệu thống kê, từ năm 2017 đến năm 2024, có 170 đơn đề nghị Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành và có 168 vụ, việc hòa giải thành ở cơ sở được Tòa án ra quyết định công nhận[15]. Nguyên nhân là Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 chưa quy định cụ thể về nội dung đề nghị Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở; về quyền yêu cầu công nhận của các bên, nghĩa vụ cung cấp thông tin của hòa giải viên (do Luật được ban hành trước Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015)… Vì thế, nhiều người dân (thậm chí cả hòa giải viên) chưa biết đến quy định này để thực hiện sau khi hòa giải thành. Điều này đã dẫn đến tình trạng nhiều vụ việc dù đã hòa giải thành nhưng vẫn phát sinh tranh chấp mới hoặc phải khởi kiện lại từ đầu, gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm giảm hiệu lực, hiệu quả của công tác hòa giải ở cơ sở.

Có thể khẳng định, việc xác định cụ thể cơ chế thực hiện trong Luật Hòa giải ở cơ sở về quyền, nghĩa vụ của các bên, của hòa giải viên, quy định những nội dung chính của văn bản về kết quả hoà giải, quy định về hiệu lực thi hành của văn bản về kết quả hoà giải thành góp phần quan trọng trong phát huy vai trò, giá trị pháp lý của kết quả hòa giải thành, khẳng định vị trí, vai trò của hòa giải ở cơ sở như một phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả, đáng tin cậy. Việc này sẽ tạo cơ sở pháp lý để các bên nghiêm túc thực hiện thỏa thuận đã đạt được, đồng thời giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân có liên quan có căn cứ xem xét, hỗ trợ, công nhận hoặc bảo đảm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hòa giải ở cơ sở

Ngày nay, dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0), công nghệ thông tin đã phát triển vượt bậc, hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội đã ứng dụng số mạnh mẽ. Tuy nhiên, lĩnh vực hòa giải ở cơ sở vẫn chủ yếu theo phương thức truyền thống. Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành chưa có quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong công tác hòa giải ở cơ sở như chưa quy định bầu hòa giải viên, bầu tổ trưởng tổ hòa giải, tiến hành hoà giải bằng hình thức trực tuyến[16] (hoà giải trên môi trường điện tử/không gian mạng), chưa quy định việc thực hiện lập văn bản về kết quả hoà giải điện tử, ký xác nhận bằng chữ ký điện tử, chưa quy định về Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở điện tử… Do đó, hòa giải cơ sở chủ yếu sử dụng hồ sơ giấy, thủ công, tốn kém chi phí in ấn, lưu trữ và nhân lực; gây khó khăn trong việc tổng hợp, báo cáo số liệu, làm giảm tính minh bạch và hiệu quả quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, việc thực hiện hòa giải cơ sở theo phương thức truyền thống trong bối cảnh xã hội hiện đại, việc bắt buộc phải gặp mặt trực tiếp gây khó khăn cho những người có khoảng cách địa lý xa hoặc các bên có mâu thuẫn gay gắt không muốn đối diện trực tiếp…

Việc xây dựng và hoàn thiện nội dung nêu trên bảo đảm bám sát, thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng hệ thống pháp luật, sắp xếp tổ chức bộ máy và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW và Kết luận số 121-KL/TW. Trong đó, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, chuyển đổi số được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Việc đưa công nghệ số vào công tác hòa giải ở cơ sở không chỉ tạo thêm cơ chế lựa chọn linh hoạt cho các địa phương có đủ điều kiện hạ tầng, mà còn là giải pháp đột phá nhằm hiện đại hóa, tăng cường tính minh bạch và nâng cao hiệu quả công tác hòa giải trong tình hình mới.

Thứ năm, về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác hoà giải ở cơ sở

Trong bối cảnh thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, để kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, thông suốt trong hoạt động của tổ chức bộ máy, ngày 11/6/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, theo đó, đã phân định thẩm quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện một số nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong công tác hoà giải ở cơ sở. Tuy nhiên, Nghị định này chỉ có hiệu lực đến ngày 28/02/2027.

Những vấn đề tồn tại, hạn chế từ tổ chức thi hành pháp luật nêu trên cần được nghiên cứu, có giải pháp quy phạm hóa trong Luật hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) để tạo hành lang pháp lý thúc đẩy công tác hòa giải ở cơ sở ngày càng hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu của xã hội.

Từ các cơ sở chính trị, pháp lý và cơ sở thực tiễn nêu trên, việc sửa đổi toàn diện Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 là hết sức cần thiết nhằm giải quyết những bất cập, hạn chế trong quy định hiện hành của Luật, phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, tạo thuận lợi hơn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở.

[1] Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại; nêu cao văn hoá thượng tôn pháp luật từ gia đình, nhà trường, đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên nền tảng đạo đức, luật pháp, chuẩn mực xã hội và giá trị truyền thống, tinh thần đoàn kết, sẻ chia, tương thân, tương ái, trách nhiệm xã hội”.

[2] Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[3] Kết luận số 130-KL/TW ngày 14/3/2025 của Bộ Chính trị về chủ trương sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, Kết luận số 230-KL/TW ngày 05/01/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án sắp xếp, tinh gọn các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ và Đề án đánh giá mô hình hoạt động của Liên minh hợp tác xã Việt Nam, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

[4] Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định một trong những căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp là người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải.

[5] Quy định thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án tại Chương XXXIII.

[6] Khoản 1 Điều 235 Luật Đất đai năm 2024: “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải, hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở…”

[7] Điều 52 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở”.

[8] Khoản 3 Điều 18 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định: “Tổ hòa giải ở cơ sở có trách nhiệm hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp và vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở”.

[9] Khoản 1 Điều 63 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định: Tổ chức hòa giải tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm: “b) Tổ chức hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải thương mại, pháp luật về hòa giải tại cơ sở, pháp luật về hòa giải tại tòa án”.

[10] Khoản 3 Điều 34 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định: “Đẩy mạnh việc hòa giải giữa người chưa thành niên và bị hại bị ảnh hưởng bởi hành vi phạm tội của người chưa thành niên”.

[11] Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật An ninh mạng năm 2025, Luật Chuyển đổi số năm 2025, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Thương mại điện tử năm 2025, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025…

[12] Báo cáo số 301/BC-BTP ngày 04/5/2026 của Bộ Tư pháp về tổng kết việc thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

[13] Báo cáo số 301/BC-BTP ngày 04/5/2026 của Bộ Tư pháp về tổng kết việc thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

[14] Khoản 2 Điều 24 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định: “Các bên có thể thỏa thuận lập văn bản hòa giải thành gồm các nội dung chính sau đây:..”

[15] Báo cáo số 48/BC-BTP ngày 26/01/2024 của Bộ Tư pháp tổng kết thực hiện Chương trình phối hợp số 162/CTPH-TANDTC-BTP ngày 08/4/2019 về phổ biến giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở giữa Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp giai đoạn 2019 – 2023

[16] Luật Hòa giải ở cơ sở quy định hòa giải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói với sự có mặt của các bên (khoản 1 Điều 21).

PHẦN 2. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua gồm 5 chương, 35 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

Luật quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; hòa giải viên, tổ hòa giải, người được mời tham gia hòa giải, các bên trong hòa giải ở cơ sở; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hòa giải ở cơ sở.

Ca dao, tục ngữ thường dùng trong hoạt động hòa giải ở cơ sở
Ca dao, tục ngữ thường dùng trong hoạt động hòa giải ở cơ sở

Luật này không áp dụng đối với hoạt động hòa giải của tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động, hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là cấp xã) và hoạt động hòa giải được luật khác quy định.

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật trước khi Quốc hội tiến hành biểu quyết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã tổ chức chỉ đạo, chỉnh lý toàn diện dự thảo Luật, bảo đảm phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp, tính hợp hiến, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đồng thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số.

Dự thảo Luật cũng tập trung khắc phục những vướng mắc của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải và quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, góp phần phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, tăng cường đồng thuận trong cộng đồng dân cư và góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Về một số nội dung cụ thể, về bảo mật thông tin trong hòa giải ở cơ sở, trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã nghiên cứu tiếp thu, giải trình và chỉnh lý, bổ sung 1 điều mới (Điều 5) quy định về bảo mật thông tin trong hòa giải ở cơ sở như thể hiện trong dự thảo Luật.

Về tiêu chuẩn của hòa giải viên (Điều 8), dự thảo Luật lược bỏ từ “thường xuyên” trong cụm từ “cư trú thường xuyên tại cơ sở” nhằm mở rộng phạm vi người được lựa chọn vào danh sách bầu hòa giải viên và bảo đảm thống nhất với Luật Cư trú; đồng thời, bổ sung tiêu chuẩn “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”; bổ sung tại khoản 5 Điều 8 quy định về các trường hợp không đủ tiêu chuẩn làm hòa giải viên, bao gồm người đang trong thời hạn thi hành quyết định xử lý kỷ luật, trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích để bảo đảm chặt chẽ.

Về bầu hòa giải viên (Điều 9), dự thảo Luật kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, đồng thời bổ sung một số nội dung nhằm bảo đảm tốt hơn tính dân chủ, công khai, minh bạch và phù hợp với thực tiễn, như quy định để xử lý trường hợp số người đạt điều kiện được công nhận làm hòa giải viên nhiều hơn số lượng cần kiện toàn; việc bầu hòa giải viên có thể kết hợp nhiều hình thức, thay vì chỉ bằng một trong các hình thức như tại dự thảo Luật đã trình Quốc hội.

Về nghĩa vụ của hòa giải viên, Tổ trưởng tổ hòa giải, dự thảo Luật bổ sung nghĩa vụ của hòa giải viên về phối hợp thực hiện các biện pháp phòng ngừa trong trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của các bên và của những người khác tham gia hòa giải tại khoản 4 Điều 13; nghĩa vụ của hòa giải viên trong việc đề xuất UBND cấp xã hỗ trợ bố trí người phiên dịch theo đề nghị của các bên tại khoản 6 Điều 13; bổ sung nghĩa vụ của Tổ trưởng tổ hòa giải trong việc thực hiện thủ tục đề nghị thanh toán thù lao theo vụ, việc hòa giải cho người được mời trực tiếp tham gia hòa giải tại khoản 7 Điều 18; bổ sung quy định về trường hợp thôi làm Tổ trưởng tổ hòa giải nhưng không thôi làm hòa giải viên để phù hợp với thực tế (khoản 2 và khoản 4 Điều 14)…

Giới thiệu Đề cương Tuyên truyền

Đề cương tuyên truyền pháp luật (trang web thành viên của https://trangtinphapluat.com): Nơi cung cấp các đề cương tuyên truyền, nghiệp vụ tuyên truyền pháp luật Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *