Ngày 10/12/2025, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 gồm 9 Chương, 53. ĐiềuDecuongtuyentruyen.com giới thiệu tới bạn đọc Đề cương tuyên truền Luât Quản lý thuế năm 2025, gồm 2 phần: Phần 1 – Sự cần thiết ban hành Luật Quản lý thuế năm 2025; Phần 2 – Những nội dung cơ bản của Luật Quản lý thuế năm 2025.
I. Sự cần thiết ban hành Luật Quản lý thuế năm 2025
1. Cơ sở chính trị, pháp lý
Việc xây dựng Luật Quản lý thuế nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách tại 20 văn bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng, tập trung vào:
(1) đổi mới bộ máy tinh gọn, phục vụ người nộp thuế (NNT); (2) cắt giảm thủ tụchàn h chính (TTHC), cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, không phụ thuộc địa giới; (3) minh bạch, tự động hóa, ứng dụng AI và dữ liệu lớn trong quản lý thuế; (4) hoàn thiện pháp lý để hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, xóa thuế khoán chậm nhất năm 2026; (5) tăng cường quản lý thương mại điện tử, kết nối chia sẻ dữ liệu; (6) rà soát, thống nhất phân cấp, phân quyền theo Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
2. Cơ sở thực tiễn
Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 sau hơn 5 năm thực hiện đã bộc lộ một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, chuyển đổi số và chưa đồng bộ với nhiều luật chuyên ngành đã sửa đổi. Trong bối cảnh Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng (như Nghị quyết 18, 57, 66, 68), việc sửa đổi toàn diện Luật là cần thiết nhằm: hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế, tạo hành lang pháp lý cho chuyển đổi số, quản lý hiệu quả các mô hình kinh tế mới (tài sản số, fintech, thương mại điện tử…), đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp và chống thất thu thuế.

Phần 2. Những nội dung mới (sửa đổi, bổ sung) tại Luật Quản lý thuế 2025
Ngoài những nội dung kế thừa quy định của Luật hiện hành, những nội dung mới (sửa đổi, bổ sung) tại Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 gồm:
1. Về đối tượng áp dụng (Điều 2):
– Sửa đổi, bổ sung về tên cơ quan quản lý thuế mang tính bao quát, bao gồm cơ quan thuế và cơ quan hải quan (khoản 2 Điều 2) cho phù hợp với tổ chức bộ máy mới sau sắp xếp. Giao Chính phủ quy định chi tiết khoản này để tại Nghị định sẽ quy định cụ thể về cơ quan thuế thuộc Cục Thuế, cơ quan hải quan thuộc Cục Hải quan.
– Bổ sung quy định rõ người nộp thuế là: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam là người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác là người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế” (điểm b, c khoản 1 Điều 2) để bao quát các đối tượng phát sinh theo quy định tại các Luật thuế (Luật Thuế GTGT, Luật Thuế TNDN).
– Sửa đổi quy định: “Tổ chức, cá nhân thực hiện khấu trừ, nộp thay số thuếđã khấu trừ của người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật quản lý thuế và pháp luật khác.” (điểm đ khoản 1 Điều 2) để bao quát các trường hợp khấu trừ tại nguồn (tổ chức chi trả thu nhập theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân, nhà quản lý nền tảng số, nền tảng thương mại điện tử có chức năng thanh toán là người nộp thuế theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng và các trường hợp nộp thuế khi thực hiện các hoạt động kinh tế mới trong giao dịch tài sản số được quy định tại các pháp luật khác).
2. Về phân nhóm người nộp thuế trong quản lý thuế (Điều 3):
Để phù hợp với yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hiện đại hóa công tác quản lý thuế, chuyển từ mô hình quản lý thủ công, dàn trải sang mô hình quản lý theo rủi ro và tuân thủ, phù hợp với định hướng của Đảng, Nhà nước về cải cách hành chính, chuyển đổi số và tối ưu hóa nguồn lực công, theo khuyến nghị của OECD và để thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế trên cơ sở phân loại mức độ tuân thủ pháp luật và mức độ rủi ro của người nộp thuế, bổ sung mới Điều 3 quy định về phân nhóm người nộp thuế. Cơ quan thuế sẽ thực hiện phân nhóm người nộp thuế căn cứ theo các tiêu chí được quy định cụ thể tại Luật như ngành nghề, lĩnh vực, đặc thù, phương thức hoạt động; loại hình pháp lý, cơ cấu sở hữu; quy mô hoạt động, quy mô doanh thu, số nộp ngân sách; mức độ tuân thủ và lịch sử tuân thủ pháp
luật về thuế của người nộp thuế; các tiêu chí khác theo quy định của Bộ Tài chính để xác định chế độ ưu tiên đối với người nộp thuế trong quản lý thuế, phân bổ nguồn lực quản lý.
3. Về giải thích từ ngữ (Điều 4):
Nhằm đảm bảo tính bao quát, thống nhất và cập nhật với thực tiễn quản lý thuế trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế số, thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cần sửa đổi, bổ sung một số khái niệm để đáp ứng yêu cầu quản lý hiện đại, bảo đảm tính minh bạch, chính xác, phù hợp với thực tế, phù hợp với thông lệ quốc tế và thuận lợi cho tổ chức thực hiện, cụ thể:

– Sửa đổi giải thích một số thuật ngữ như: Thuế, Khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu, Khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước không do cơ quan quản lý thuế quản lý thu để tách bạch giữa “thuế” và “khoản thu khác”, theo đó, chỉnh lý bổ sung cụm từ “khoản thu khác” vào nội dung giải thích từ ngữ đối với: Tiền thuế nợ; Kỳ tính thuế, khoản thu khác; Hồ sơ thuế; Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; nguyên tắc bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế và bổ sung thêm cụm từ “khoản thu khác” tại 16 Điều (gồm: Điều 6, Điều 8, Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 33, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 42);
– Sửa đổi giải thích một số thuật ngữ: Hệ thống thông tin quản lý thuế; Mã số thuế; Hồ sơ đăng ký thuế; Quản lý rủi ro trong quản lý thuế; Cơ sở dữ liệu thương mại; Các bên có quan hệ liên kết; Nguyên tắc giao dịch độc lập;
– Bổ sung, chuyển một số thuật ngữ xuống các Điều liên quan như: Thủ tục thỏa thuận song phương (MAP) và Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) (xuống khoản 2 Điều 30); Mã định danh khoản phải nộp (khoản 2 Điều 14); Nguyên tắc bản chất kinh tế của hoạt động, giao dịch phát sinh quyết định nghĩa vụ thuế (xuống khoản 4 Điều 6).
4. Về nội dung quản lý thuế (Điều 5):
Để phù hợp với việc chuyển sang quản lý thuế theo đối tượng người nộp thuế trên cơ sở phân nhóm rủi ro và tuân thủ, đồng thời kết hợp với chức năng nghiệp vụ để triển khai linh hoạt, hiệu quả các biện pháp quản lý phù hợp với từng nhóm đối tượng, phù hợp với phương thức quản lý thuế hiện đại, phù hợp với xu hướng quốc tế và điều kiện thực tiễn tại Việt Nam: (i) Bổ sung quy định cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế theo phân nhóm người nộp thuế; (ii) Bổ sung nội dung quản lý thuế gồm: quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ.
5. Về nguyên tắc quản lý thuế (Điều 6):
Để nhấn mạnh đầy đủ yếu tố “lấy người nộp thuế làm trung tâm” và quản lý thuế theo thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện của Việt Nam; quản lý thuế dựa trên rủi ro và tuân thủ cần sửa đổi, bổ sung nguyên tắc mới để điều chỉnh toàn diện các hoạt động quản lý, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế số, giao dịch xuyên biên giới và yêu cầu bảo vệ quyền NNT, cụ thể:
– Sửa đổi nguyên tắc quản lý thuế phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, bình đẳng, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước (khoản 1 Điều 6);

– Bổ sung quy định người nộp thuế tự xác định nghĩa vụ thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước phải nộp, tự kê khai thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước và tự nộp thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan, trừ trường hợp do cơ quan quản lý thuế tính thuế, khoản thu khác, thông báo thuế, khoản thu khác theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 6); bổ sung nguyên tắc quản lý tuân thủ (khoản 4 Điều 6).
6. Về bảo mật, công khai thông tin người nộp thuế (Điều 7):
Nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế về việc được bảo mật thông tin theo quy định, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được cung cấp thông tin, bổ sung quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân được cơ quan quản lý thuế cung cấp thông tin theo các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan quản lý thuế, các cơ quan nhà nước khác, tổ chức có liên quan trong nước và ngoài nước khi thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm cung cấp, chia sẻ, trao đổi thông tin người nộp thuế phục vụ công tác quản lý thuế theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật này phải sử dụng thông tin đúng mục đích và bảo mật thông tin theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan (khoản 4 Điều 7).
7. Về khai thuế, khoản thu khác, tính thuế, khoản thu khác, khấu trừ thuế (Điều 12)
– Bổ sung quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp khấu trừ, khai thay, nộp thay thuế, khoản thu khác theo quy định của pháp luật về thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan (khoản 3 Điều 12) giúp giảm thiểu thủ tục và hạn chế tối đa tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể trong quá trình kê khai, nộp thuế.
– Bổ sung quy định “trường hợp phải kéo dài thời gian gia hạn nộp hồ sơ khai thuế do Chính phủ quy định phù hợp với tình hình thực tế” (khoản 4 Điều 12) để phù hợp với định hướng tăng cường phân cấp, phân quyền và đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác quản lý thuế từng thời kỳ.
– Sửa đổi quy định về thời hạn khai bổ sung: giảm từ thời hạn 10 năm xuống 05 năm để thống nhất với thời hiệu xử lý vi phạm hành chính về thuế (05 năm kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm); phù hợp với thông lệ quốc tế nâng cao trách nhiệm kê khai trung thực, đầy đủ, chính xác của người nộp thuế; giảm tải số lượng hồ sơ khai thuế cơ quan thuế phải lưu trữ, tạo điều kiện cho chuyển đổi số và xử lý hồ sơ thuế điện tử một cách nhanh chóng và hiệu quả.
– Bổ sung quy định “Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp còn sai, sót liên quan đến phạm vi, thời kỳ đã thanh tra, kiểm tra dẫn đến phát sinh tăng số thuế phải nộp, giảm số thuế đã được miễn, giảm, hoàn, giảm số thuế được khấu trừ, giảm số thuế đã nộp thừa thì người nộp thuế được bổ sung hồ sơ giải
trình với cơ quan thuế. Cơ quan thuế có trách nhiệm rà soát hồ sơ giải trình liên quan đến phạm vi, thời kỳ đã thanh tra, kiểm tra của người nộp thuế, trường hợp chấp thuận hồ sơ giải trình của người nộp thuế thì cơ quan thuế ban hành thông báo chấp thuận cho người nộp thuế điều chỉnh hồ sơ khai thuế. Người nộp thuế bị xử lý theo quy định như đối với trường hợp cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra phát hiện. Công chức thanh tra, kiểm tra thuế liên quan đến hồ sơ giải trình chịu trách nhiệm về sai, sót chưa được phát hiện đầy đủ qua kiểm tra trong trường hợp tuân thủ chưa đúng quy định tại điểm n khoản 1 Điều 38 của Luật này” (điểm d khoản 5) để giải quyết các vấn đề vướng mắc trong thực tiễn; mục tiêu thu đúng, thu đủ tiền thuế vào NSNN; tạo điều kiện cho phép các doanh nghiệp, doanh nhân được chủ động khắc phục sai phạm, thiệt hại theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, nhưng vẫn đảm bảo việc xử lý các hành vi vi phạm hành chính, ngăn chặn việc chuyển hành vi hình sự sang hành chính.
– Bổ sung quy định người nộp thuế được khai bổ sung đối với “Hồ sơ không thuộc trường hợp cơ quan điều tra yêu cầu không được khai bổ sung hồ sơ khai thuế, khoản thu khác để phục vụ điều tra vụ án” (điểm c khoản 5) nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tránh việc doanh nghiệp cố ý gian lận thuế nếu sơ hở thông tin, doanh nghiệp lập tức làm thủ tục kê khai nộp bổ sung để chuyển hành vi.
– Bổ sung quy định người nộp thuế được khai bổ sung đối với “Các trường hợp thực hiện theo kết luận, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Trường hợp người nộp thuế khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp, giảm số thuế được khấu trừ, miễn, giảm, hoàn thì bị xử lý theo quy định như đối với trường hợp cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra phát hiện” (điểm đ khoản 5) và giao “Chính phủ quy định các trường hợp cơ quan điều tra đề nghị không được khai bổ sung hồ sơ khai thuế, khoản thu khác để phục vụ điều tra vụ án và trách nhiệm thông báo của cơ quan điều tra cho cơ quan thuế khi kết thúc yêu cầu liên quan
đến vụ án quy định tại điểm c khoản này và các trường hợp khai bổ sung theo kết luận, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế quy định tại điểm đ khoản này”(điểme khoản 5) để đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước của các cơ quan chuyên ngành có thẩm quyền (Tòa án, cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà Nước, …), đảm bảo quyền lợi của người nộp thuế khi đã thực hiện nộp thuế đủ vào NSNN thì cũng phải được khai bổ sung hồ sơ thuế đối với phần thuế đã nộp vào NSNN.
Liên hệ trangtinphapluat2019@gmail.com để tải toàn văn đề cương tuyên truyền Luật Quản lý thuế năm 2025 (miễn phí)
BLog đề cương tuyên truyền pháp luật Đề cương tuyên truyền văn bản luật