Sáng 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, với 448/450 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 94,71%), Quốc hội chính thức thông qua Luật Dân số năm 2025.
Decuongtuyentruyen.com giới thiệu tới bạn đọc đề cương tuyên truyền Luật Dân số năm 2025, gồm 02 phần: Phần 1. Sự cần thiết ban hành Luật Dân số; Phần 2. Những nội dung chính của Luật Dân số 2025.
Phần 1. Sự cần thiết ban hành Luật Dân số
1. Kết quả đạt được của công tác dân số
Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức được vị trí, vai trò của công tác dân số đối với kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng. Nghị quyết số 21-NQ/TW khằng định “Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác dân số là nhiệm vụ chiên lược, vừa câp thiêt vừa lâu dài; là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân’
Năm 2003, Pháp lệnh Dân số được ban hành, tạo cơ sở pháp lý quan trọng thực hiện công tác dân số; góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác dân số.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; sự vào cuộc, tích cực tham gia phối hợp, nỗ lực triển khai công tác dân số của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của các tầng lớp Nhân dân, các tổ chức quốc tế, công tác dân số nước ta trong những năm qua đã đạt được những kết quả quan trọng.

Năm 2006, nước ta đã đạt mức sinh thay thế và giữ được mức sinh xung quanh mức sinh thay thế trên phạm vi toàn quốc; duy trì mức độ gia tăng dân số phù hợp hằng năm; quy mô dân số đạt hơn 100 triệu người. Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng tạo ra những lợi thế to lớn cho quá trình phát triền kinh tế, xã hội; phân bố dân số đã hợp lý hơn; chất lượng dân số, chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta không ngừng tăng lên ; tuổi thọ bình quân người Việt Nam ngày càng được nâng cao. Mỗi cặp vợ chồng có 2 con đã trở thành chuẩn mực, lan toả, thấm sâu trong toàn xã hội. Kết quả công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình đã làm tăng việc tăng thu nhập bình quân đầu người, cải thiện đời sống nhân dân, giảm tình
GDP bình quân đầu người khoảng 2%/năm góp phần đáng kể vào tăng thu nhập bình quân đầu người, cải thiện đời sống nhân dân, giảm tình trạng đói nghèo tăng cường bình đẳng giới. Tổ chức bộ máy làm công tác dân số đã giảm bớt được đầu mối, tinh gọn bộ máy theo đúng chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
2. Những hạn chế của công tác dân số
Hiện nay, trong bối cảnh kinh tế – xã hội có nhiều vấn đề dân số nảy sinh so với thời điểm ban hành Pháp lệnh Dân số; nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, đòi hỏi các quy định về dân số phải được thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành. Qua đánh giá, tổng kết việc thi hành Pháp lệnh Dân số, vấn đề dân số có liên quan mật thiết đến quyền con người, quyền công dân nên việc quy định những nội dung về hạn chế quyền con người, quyền công dân tại Pháp lệnh Dân số chưa phù hợp với Hiến pháp, cần phải được ghi nhận tại luật. Công tác dân số hiện nay còn nhiều tồn tại, hạn chế; xuất hiện một số bất cập mới về dân số, tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước, đó là :
– Thiếu quy định cụ thể về quyền, trách nhiệm và cơ chế thực hiện của các chủ thể trong thực hiện các biện pháp liên quan đến công tác dân số.
– Thiếu quy định cụ thể về chính sách ưu tiên, đối tượng ưu tiên, mức ưu tiên, biện pháp thực hiện đối với một số đối tượng đặc thù trong sử dụng các dịch vụ dân số đối với vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.
– Việc duy trì vững chắc mức sinh thay thế chưa thực sự bền vững; xuất hiện xu hướng mức sinh xuống thấp, chênh lệch giữa các vùng, đối tượng chưa được khắc phục
Mức sinh trên toàn quốc đang có xu hướng giảm thấp dưới mức sinh thay thế, từ 2,11 con/phụ nữ (2021) xuống 2,01 con/phụ nữ (2022), 1,96 con/phụ nữ (2023) và 1,91 con/phụ nữ (2024) – thấp nhất trong lịch sử và được dự báo là sẽ tiếp tục xuống thấp trong các năm tiếp theo (nếu mức sinh tiếp tục giảm, đến năm 2039 Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng, năm 2042 quy mô dân số trong độ tuổi lao động đạt đỉnh và sau năm 2054 dân số sẽ bắt đầu tăng trưởng âm.

Mức sinh ở Việt Nam hiện tại có sự khác biệt giữ các tỉnh/thành phố và các vùng miền, 9 tỉnh, thành phố đạt mức sinh thay thế (chiếm 19% dân số cả nước); 33 tỉnh, thành phố có mức sinh cao chủ yếu tập trung ở khu vực Tây Nguyên, Trung du và miền núi phía Bắc và Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung (chiếm 42%) và 21 tỉnh, thành phố có mức sinh thấp tập trung chủ yếu ở 2 vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 39%). Đặc biệt, vùng Đông Nam Bộ có 5/6 tỉnh, thành phố mức sinh giảm sâu trong nhiều năm, Hồ Chí Minh là tỉnh có mức sinh thấp nhất trong cả nước 1,39 con/phụ nữ (năm 2023).
– Tốc độ gia tăng nhanh tỉ số giới tính khi sinh đã được khống chế tuy nhiên còn cao so với mức cân bằng tự nhiên
Năm 2006, tỷ số giới tính khi sinh ở mức 109,8 bé trai/100 bé gái sinh ra sống – vượt ngưỡng cân bằng tự nhiên (103-107); năm 2015 là 112,8, năm 2024 là 111,4. Như vậy, tỷ số giới tính khi sinh luôn ở mức cao. Dự báo, nếu tỷ số giới tính khi sinh vẫn giữ nguyên như hiện nay, Việt Nam sẽ dư thừa 1,5 triệu nam giới 15-49 tuổi vào năm 2039 và tăng lên 2,5 triệu vào năm 2059.
– Chưa có giải pháp đồng bộ phát huy hiệu quả lợi thế của thời kỳ cơ cấu dân số vàng.
– Chưa có giải pháp đồng bộ thích ứng với già hóa dân số trong khi già hóa dân số là xu thế tất yếu của mọi quốc gia18 (Việt Nam là một trong những nước có tốc độ già hóa dân số nhanh trên thế giới)19; dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại gia đình, cộng đồng, chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi chưa đáp ứng với nhu cầu của người cao tuổi.
Chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu; tuổi thọ bình quân tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp.
– Tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn; tầm soát, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh còn thấp; tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn phổ biến ở một số dân tộc ít người
– Phân bố dân số, quản lý di cư còn nhiều bất cập.
– Lồng ghép các yếu tố dân số trong hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội chưa được đồng bộ và chú trọng đúng mức.
– Tổ chức bộ máy làm công tác dân số không đồng bộ, thiếu thống nhất, liên tục thay đổi, thời gian củng cố kéo dài và đang tiếp tục có nhiều biến động
– Nguồn lực đầu tư cho công tác dân số còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ. Trong các giai đoạn trước đây, công tác dân số được bố trí nguồn lực tài chính thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia dân số, Chương trình mục tiêu Y tế – Dân số, nguồn vốn quốc tế viện trợ… Từ năm 2010, Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp , nguồn viện trợ quốc tế cho công tác dân số bị cắt giảm mạnh; năm 2021 đã kết thúc Chương trình mục tiêu Y tế – Dân số theo Quyết định số 1125/QĐ-TTg ngày 31/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình mục tiêu Y tế – Dân số giai đoạn 2016 – 2020. Từ năm 202 1 đến nay, ngân sách nhà nước đầu tư cho công tác dân số vẫn còn hạn chế,
chưa đáp ứng yêu cầu “bảo đảm đủ nguồn lực đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện công tác dân số” như đã nêu tại Nghị quyết 21-NQ/TW, chưa có nguồn riêng đầu tư cho công tác dân số. Giai đoạn 1992-1995, ngân sách đầu tư tăng gần 10lần (trên 900 tỷ đồng/năm). Giai đoạn 2012-2016, ngân sách đầu tư giảm mạnh gần 1/2 (xuống còn 450 tỷ đồng/năm).
Giai đoạn 2017-2019, ngân sách đầu tư tiếp tục giảm dần. Đến năm 2024 ngân sách trung ương đầu tư cho công tác dân số chỉ còn 41,1 tỷ tương đương 30% giai đoạn 2017-2019, 6% giai đoạn 2012- 2016
Để đáp ứng đủ các điều kiện về nguồn lực thực hiện toàn diện, đồng bộ công tác dân số trong tình hình mới cần quy định trong Luật Dân số các nội dung về huy động nguồn lực xã hội để thực hiện toàn diện công tác dân số
Thực trạng dân số Việt Nam đã phát sinh những vấn đề nghiêm trọng phải kịp thời giải quyết
Mức sinh trên toàn quốc đang có xu hướng giảm thấp dưới mức sinh thay thế, từ 2,11 con/phụ nữ (2021) xuống 2,01 con/phụ nữ (2022), 1,96 con/phụ nữ (2023) và 1,91 con/phụ nữ (2024) – thấp nhất trong lịch sử và được dự báo là sẽ tiếp tục xuống thấp trong các năm tiếp theo (nếu mức sinh tiếp tục giảm, đến năm 2039 Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng, năm 2042 quy mô dân số trong độ tuổi lao động đạt đỉnh và sau năm 2054 dân số sẽ bắt đầu tăng trưởng âm.

Mất cân bằng giới tính khi sinh trở thành thách thức: Năm 2006, tỷ số giới tính khi sinh ở mức 109,8 bé trai/100 bé gái sinh ra sống – vượt ngưỡng cân bằng tự nhiên (103-107); năm 2015 là 112,8, năm 2024 là 111,4. Như vậy, tỷ số giới tính khi sinh luôn ở mức cao. Dự báo, nếu tỷ số giới tính khi sinh vẫn giữ nguyên như hiện nay, Việt Nam sẽ dư thừa 1,5 triệu nam giới 15-49 tuổi vào năm 2039 và tăng lên 2,5 triệu vào năm 2059. Điều đó sẽ dẫn tới nguy cơ phá vỡ cấu trúc gia đình, một bộ phận nam giới sẽ phải kết hôn muộn, không có khả năng kết hôn, gia tăng tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em gái, mại dâm, bạo hành giới, tội phạm xuyên quốc gia… Chưa có giải pháp đồng bộ thích ứng với già hóa dân số, dân số già; dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi còn hạn chế. Chất lượng dân số chưa đáp ứng yêu cầu.
Bộ Y tế cho biết, từ năm 2016 đến nay nguồn lực đầu tư cho dân số và phát triển còn thấp chưa tương xứng với nhu cầu. Giai đoạn 2011-2015 là khoảng 740 tỷ/năm, giai đoạn 2016-2020 chỉ còn dưới 360 tỷ/năm. Năm 2021 đến nay, sau kết thúc Chương trình mục tiêu Y tế – Dân số, giai đoạn 2021-2023, mặc dù nhu cầu thực tế trung bình lên đến 800 tỷ đồng/năm, nhưng địa phương chỉ bố trí được khoảng 95 tỷ đồng/năm và Trung ương chỉ bảo đảm được khoảng 25 tỷ đồng/năm (chỉ đáp ứng 15% nhu cầu).
Phần 2. Những nội dung chính của Luật Dân số 2025
Luật Dân số gồm 8 Chương, 30 Điều, đánh dấu sự chuyển đổi trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển.Luật có một số nội dung nổi bật. Theo đó, bãi bỏ quy định hạn chế số con, khuyến khích sinh đủ 2 con. Luật Dân số đã chính thức bãi bỏ cụm từ: “Mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ một đến hai con” tại Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Thay vào đó, Nhà nước thực hiện chính sách duy trì mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sinh 2,1 con). Quyền quyết định số con, thời gian sinh và khoảng cách sinh thuộc về mỗi cá nhân, cặp vợ chồng.
Luật cũng tăng quyền lợi vượt trội khi sinh con thứ hai như tăng thời gian nghỉ thai sản với lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng (tăng 1 tháng so với quy định hiện hành là 6 tháng); lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con thứ hai (hoặc sinh đôi).
Nhà nước sẽ hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ thuộc vùng dân tộc thiểu số rất ít người; phụ nữ ở các tỉnh, thành phố có mức sinh thấp; và đặc biệt là hỗ trợ phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi. Người có từ 2 con đẻ trở lên sẽ được ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội.
Luật cũng siết chặt quy định để giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, khi nghiêm cấm tuyệt đối việc lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức. Đáng chú ý, hành vi thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi để phá thai được quy định là hành vi bị nghiêm cấm. Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có hành vi thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi để phá thai sẽ bị đình chỉ hành nghề.

Về chính sách thích ứng già hóa dân số và nâng cao chất lượng dân số, Luật khuyến khích cá nhân chủ động chuẩn bị tài chính, sức khỏe và tâm lý cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ; khuyến khích tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm sức khỏe. Nhà nước ưu tiên phát triển mạng lưới bệnh viện lão khoa và nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi.
Luật khuyến khích nam, nữ tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn. Tùy điều kiện ngân sách, chính quyền địa phương cấp tỉnh quyết định việc hỗ trợ kinh phí cho hoạt động này. Chi phí khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh sẽ được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và bảo hiểm y tế theo lộ trình.Luật Dân số có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Riêng các quy định về hỗ trợ tài chính cho phụ nữ tại vùng mức sinh thấp, phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.
Như vậy, Luật Dân số chính thức được thông qua với sự đồng thuận cao của Quốc hội. Việc ban hành Luật Dân số được kì vọng sẽ góp phần nâng hiệu lực của Pháp lệnh Dân số năm 2003 lên một tầm cao mới, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho chính sách dân số quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
BLog đề cương tuyên truyền pháp luật Đề cương tuyên truyền văn bản luật