Ngày 10/12/2025, với 434/436 đại biểu Quốc hội có mặt tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 với tỉ lệ 99,54%. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 gồm 5 chương, 28 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2026.
Decuongtuyentruyen.com biên soạn, giới thiệu tới bạn đọc đề cương tuyên truyền Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước năm 2025, gồm 02 phần: Phần 01 – Sự cần thiết ban hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025; Phần 2 – Những nội dung cơ bản và điểm mới của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.
Phần 01 – Sự cần thiết ban hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025
Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước (BMNN) hiện hành (2018) sau 5 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và cải cách tổ chức bộ máy. Cụ thể:
a) Về công nghệ thông tin và chuyển đổi số
Quy định cấm soạn thảo, lưu giữ, truyền đưa BMNN trên mạng máy tính (kể cả mạng LAN nội bộ) gây khó khăn trong làm việc, tốn kém chi phí triển khai giải pháp cơ yếu.
Cần mở rộng biện pháp bảo vệ phù hợp với xu thế phát triển công nghệ.

Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025
b) Phạm vi BMNN
Cần điều chỉnh để phù hợp với ngành, lĩnh vực sau sắp xếp tổ chức bộ máy.
Loại bỏ một số thông tin không cần thiết phải giữ bí mật trong bối cảnh hội nhập.
c) Thẩm quyền xác định và phân loại BMNN
Quy định chỉ người đứng đầu được xác định độ mật gây khó khăn khi người này vắng mặt.
Thiếu quy định về xác định BMNN đối với dự thảo văn bản.
d) Hình thức và chủ thể lập danh mục BMNN
Chưa quy định rõ hình thức văn bản ban hành danh mục BMNN.
Cần điều chỉnh chủ thể lập danh mục cho phù hợp với mô hình tổ chức chính trị – xã hội sau sắp xếp.
e) Thẩm quyền sao, chụp tài liệu BMNN
Chưa phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (tỉnh, xã) và mô hình tổ chức theo khu vực.
Thiếu quy định về thẩm quyền sao, chụp đối với tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước.
f) Thủ tục mang tài liệu BMNN ra khỏi nơi lưu giữ
Quy định xin phép mỗi lần mang tài liệu ra ngoài gây phiền hà, không cần thiết.
g) Thẩm quyền cung cấp BMNN cho nước ngoài
Chỉ Thủ tướng có thẩm quyền cung cấp BMNN độ Tuyệt mật, gây khó khăn trong thực tiễn.
h) Thời hạn bảo vệ BMNN
Cách thức xác định thời hạn bảo vệ chưa rõ ràng.
Thiếu quy định về thời hạn bảo vệ đối với dự thảo văn bản.
i) Thu hồi tài liệu sau hội nghị, hội thảo
Quy định bắt buộc thu hồi tài liệu sau hội nghị gây khó khăn trong triển khai công việc.
k) Gia hạn thời hạn bảo vệ
Thiếu quy định về gia hạn trong trường hợp đặc biệt (như hoạt động thanh tra, khám xét chưa kết thúc).
l) Giải mật
Thiếu quy định về đương nhiên giải mật khi cơ quan khác đã giải mật.
Cần mở rộng thẩm quyền giải mật cho cấp phó được ủy quyền.
m) Trách nhiệm của người đứng đầu
Quy định ban hành nội quy bảo vệ BMNN ở mọi cấp là không cần thiết, gây cứng nhắc.
n) Cần bãi bỏ một số thuật ngữ, chức danh không còn phù hợp sau sắp xếp tổ chức bộ máy.
Phần 2 – Những nội dung cơ bản và điểm mới của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (sửa đổi) gồm 5 chương, 28 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2026.
2.1. Phạm vi điều chỉnh (Điều 1)
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước quy định về bí mật nhà nước, bảo vệ bí mật nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
2.2. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức, cá nhân trong bảo vệ bí mật nhà nước (Điều 4, Điều 24)
Luật quy định bảo vệ bí mật nhà nước là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân; việc quản lý, sử dụng bí mật nhà nước bảo đảm đúng mục đích, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; bí mật nhà nước được bảo vệ theo thời hạn quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo quy định của pháp luật.
2.3. Giải thích từ ngữ (Điều 2)
a) Luật bổ sung 02 khái niệm mới, gồm:
– Khái niệm “Mạng LAN độc lập”: Luật quy định “Mạng LAN độc lập” là mạng máy tính cục bộ được thiết lập, giới hạn trong một trụ sở cơ quan, tổ chức, không kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông, mạng máy tính khác có kết nối ra ngoài trụ sở đó và có biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống kết nối, tấn công, thu thập thông tin trái phép. Đây là quy định mới được bổ sung tại Luật để thống nhất cách hiểu về “Mạng LAN độc lập” dùng để soạn thảo, lưu giữ, gửi, nhận bí mật nhà nước trong cơ quan, tổ chức.
– Khái niệm “Văn bản điện tử bí mật nhà nước”: Luật quy định “Văn bản điện tử bí mật nhà nước” là văn bản chứa bí mật nhà nước dưới dạng dữ liệu số được người có thẩm quyền theo quy định của Luật này xác định. Việc bổ sung khái niệm “Văn bản điện tử bí mật nhà nước” nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn hiện nay khi các ban, bộ, ngành, địa phương tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác bảo vệ bí mật nhà nước, tiến tới không sử dụng tài liệu bí mật nhà nước là bản giấy.
b) Luật sửa đổi khái niệm bí mật nhà nước theo hướng được người có thẩm quyền xác định thay vì quy định cứng là người đứng đầu cơ quan, tổ chức nhằm bảo đảm tính khả thi và thực tiễn công tác bảo vệ bí mật nhà nước. Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật, người có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Đồng thời, bổ sung hình thức chứa bí mật nhà nước bao gồm tài liệu là bản giấy và văn bản điện tử để bao quát cả dữ liệu số, dữ liệu điện tử.
2.4. Các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 5)
a) Luật bổ sung 02 quy định mới nghiêm cấm đối với các hành vi:
– Nghiêm cấm xác định bí mật nhà nước đối với thông tin không thuộc danh mục bí mật nhà nước (khoản 1 Điều 5). Thực tiễn hiện nay, một số cơ quan, tổ chức, địa phương xác định bí mật nhà nước đối với thông tin không thuộc danh mục bí mật nhà nước gây khó khăn cho công tác quản lý, sử dụng và hoạt động chỉ đạo điều hành. Do đó, Luật bổ sung quy định nghiêm cấm hành vi này nhằm nâng cao trách nhiệm của người soạn thảo, đề xuất độ mật và trách nhiệm của người có thẩm quyền quyết định độ mật; đồng thời tạo cơ sở pháp lý xử lý hành vi xác định không đúng bí mật nhà nước.
– Nghiêm cấm sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để xâm phạm bí mật nhà nước (khoản 10 Điều 5). Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 cho phép sử dụng triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo vào công tác bảo vệ bí mật nhà nước nhưng nghiêm cấm việc sử dụng hệ thống này hoặc công nghệ mới để xâm phạm bí mật nhà nước.
b) Sửa đổi, bổ sung 02 hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ bí mật nhà nước gồm:
– Luật quy định mở rộng, cho phép soạn thảo, lưu giữ, gửi, nhận bí mật nhà nước trên mạng máy tính là “Mạng LAN độc lập” được giới hạn trong phạm vi một trụ sở cơ quan, tổ chức, không phải mã hóa bằng mật mã cơ yếu (khoản 2 Điều 5) nhằm tháo gỡ triệt để vướng mắc tại Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 và đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia, thực tiễn công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong tình hình hiện nay; đồng thời, giúp tiết kiệm cho ngân sách nhà nước chi cho việc trang cấp phương tiện, thiết bị mã hóa và giải pháp cơ yếu.
– Sửa đổi, bổ sung nghiêm cấm đối với hành vi “Sử dụng máy tính, thiết bị khác để soạn thảo, lưu giữ tài liệu bí mật nhà nước khi chưa bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống xâm phạm bí mật nhà nước” (khoản 8 Điều 5) để bảo đảm an toàn bí mật nhà nước, phòng, chống máy tính, thiết bị bị cài đặt mã độc, phần mềm gián điệp để thu thập, đánh cắp bí mật nhà nước.
2.5. Phạm vi bí mật nhà nước (Điều 7)
Quy định về phạm vi bí mật nhà nước cơ bản được kế thừa từ Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018; có sửa đổi, bổ sung theo hướng phân loại lĩnh vực theo quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ và mô hình tổ chức bộ máy sau sắp xếp, tinh gọn, đồng thời giới hạn phạm vi bí mật nhà nước trong một số lĩnh vực như: Hoạt động lập hiến, lập pháp, giám sát, quyết định vấn đề quan trọng của đất nước, thông tin về nông nghiệp, công nghiệp, thương mại liên quan đến quốc phòng, an ninh; thông tin về y tế có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng con người, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội; thông tin về lao động có tác động tiêu cực đến chính trị, đối ngoại, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; quy trình chuẩn bị và triển khai, thực hiện công tác tổ chức, cán bộ đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người làm việc trong tổ chức cơ yếu cấp cục, cấp vụ và tương đương trở lên.
Bãi bỏ, đưa ra khỏi phạm vi bí mật nhà nước những thông tin công khai trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập quốc tế và không bảo vệ theo danh mục bí mật nhà nước hiện hành, như thông tin về “dân số”, “người có công với cách mạng”, “bình đẳng giới”, “trẻ em”, “phương pháp, bí quyết sáng tạo, trao truyền di sản văn hóa phi vật thể”, “phương pháp, bí quyết tuyển chọn huấn luyện viên, vận động viên các môn thể thao thành tích cao; biện pháp, bí quyết phục hồi sức khỏe vận động viên sau luyện tập, thi đấu; đấu pháp trong thi đấu thể thao thành tích cao”, “thông tin về di sản, cổ vật, bảo vật quốc gia”, “số lượng, nơi lưu giữ kim loại quý hiếm, đá quý và vật quý hiếm khác của nhà nước”, “quy trình sản xuất dược liệu, thuốc sinh học quý hiếm”, “giải quyết khiếu nại”…

2.6. Phân loại bí mật nhà nước (Điều 8)
– Bổ sung thông tin liên quan đến khoa học công nghệ vào bí mật nhà nước độ Tuyệt mật nhằm bảo vệ những thông tin về khoa học công nghệ, sáng chế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế – xã hội.
– Sửa đổi quy định về phân loại bí mật nhà nước độ Tối mật, độ mật theo hướng dẫn chiếu đến các lĩnh vực quy định tại Điều 7 (Phạm vi bí mật nhà nước) để bảo đảm tính khái quát và đầy đủ các lĩnh vực cần bảo vệ.
2.7. Ban hành danh mục bí mật nhà nước (Điều 9)
Luật bổ sung quy định mới về chủ thể có trách nhiệm lập danh mục bí mật nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội (điểm c khoản 2 Điều 9). Theo đó, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm lập danh mục bí mật nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Như vậy, theo quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội sẽ áp dụng chung 01 danh mục bí mật nhà nước thay vì 06 danh mục bí mật nhà nước như hiện nay.
2.8. Xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước (Điều 10)
Để phù hợp với điều kiện thực tiễn của cơ quan, tổ chức, địa phương và chủ trương tăng cường phân cấp, phân quyền trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước, ngoài người đứng đầu, Luật bổ sung quy định cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước. Quy định này góp phần giải quyết triệt để vướng mắc trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước khi người đứng đầu vắng mặt tại cơ quan.
2.9. Sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước (Điều 11)
a) Luật bổ sung quy định mới về chủ thể có thẩm quyền sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước:
Nhằm phục vụ hoạt động, vận hành của chính quyền địa phương 02 cấp, đặc biệt là cấp xã, Luật bổ sung cấp xã, một số cơ quan ở trung ương tổ chức theo mô hình khu vực (Kho bạc Nhà nước khu vực, Hải quan khu vực, Dự trữ Nhà nước khu vực, Tòa án nhân dân khu vực, Viện kiểm sát nhân dân khu vực) có thẩm quyền cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến độ Tối mật. Bổ sung quy định đối với cơ quan chính quyền có tổ chức đảng song song thì người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đảng đó cũng có thẩm quyền cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước. Quy định này góp phần khắc phục triệt để khó khăn, vướng mắc hiện nay khi cơ quan, tổ chức đảng triển khai, xử lý tài liệu bí mật nhà nước do cấp ủy Đảng cấp trên ban hành.
b) Luật bãi bỏ quy định về thủ tục ủy quyền thẩm quyền cho cấp phó cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước để tăng cường phân cấp, phân quyền và cắt giảm thủ tục hành chính nội bộ trong cơ quan, tổ chức. Theo đó, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ mật nào thì cấp phó có thẩm quyền cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước tương ứng với độ mật đó (trừ cấp phó trưởng phòng và tương đương thì không có thẩm quyền sao, chụp).
2.10. Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ (Điều 14)
Để phù hợp với thực tiễn và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong nội bộ, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 bãi bỏ thủ tục xin phép khi mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác trong nước và bổ sung quy định trách nhiệm của người mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ, biện pháp bảo vệ, nội dung liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ được giao và việc bàn giao lại cơ quan sau khi xử lý xong công việc tại Nghị định của Chính phủ.
2.11. Cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài (Điều 16)
Quy định về cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài cơ bản được kế thừa từ Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018; có sửa đổi, bổ sung thẩm quyền cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước độ Tuyệt mật. Theo đó, ngoài Thủ tướng Chính phủ, Luật bổ sung Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội có thẩm quyền quyết định cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước độ Tuyệt mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài để phù hợp với nhiệm vụ chỉ đạo, điều hành của từng chủ thể và thực tiễn công tác bảo vệ bí mật nhà nước.

2.12. Hội nghị, hội thảo, cuộc họp của cơ quan, tổ chức Việt Nam có nội dung bí mật nhà nước (Điều 17)
Quy định về thẩm quyền quyết định hội nghị, hội thảo, cuộc họp của cơ quan, tổ chức Việt Nam có nội dung bí mật nhà nước, thành phần tham dự hội nghị, hội thảo, cuộc họp được kế thừa từ Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018; có sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến thu hồi tài liệu sau hội nghị, hội thảo, cuộc họp và trách nhiệm của người chủ trì (khoản 2, khoản 3 Điều 17). Theo đó, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 sửa đổi theo hướng giao người chủ trì hội nghị, hội thảo, cuộc họp quyết định việc thu hồi tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước sau hội nghị, hội thảo, cuộc họp thay vì quy định bắt buộc phải thu hồi như quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018; đồng thời người chủ trì chịu trách nhiệm trước người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức về việc bảo vệ bí mật nhà nước tại hội nghị, hội thảo, cuộc họp nhằm nâng cao tính chịu trách nhiệm của người chủ trì trong việc bảo vệ bí mật nhà nước.
2.13. Hội nghị, hội thảo, cuộc họp có yếu tố nước ngoài tổ chức tại Việt Nam có nội dung bí mật nhà nước (Điều 18)
Quy định về hội nghị, hội thảo, cuộc họp có yếu tố nước ngoài tổ chức tại Việt Nam có nội dung bí mật nhà nước cơ bản được kế thừa từ quy định tại Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018; có sửa đổi, bổ sung trách nhiệm của người chủ trì hội nghị, hội thảo, cuộc họp về việc bảo vệ bí mật nhà nước (tương tự như quy định tại Điều 17) tại hội nghị, hội thảo, cuộc họp có yếu tố nước ngoài tổ chức tại Việt Nam.
2.14. Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước (Điều 19)
Kế thừa quy định tại Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018, Luật giữ nguyên quy định thời hạn bảo vệ đối với bí mật nhà nước độ Tuyệt mật là 30 năm, độ Tối mật là 20 năm, độ Mật là 10 năm nhằm đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân. Luật bổ sung quy định thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước đối với dự thảo văn bản chứa nội dung bí mật nhà nước được xác định bằng dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước”. Đây là quy định mới so với Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 nhằm bảo vệ toàn diện bí mật nhà nước (cả văn bản dự thảo và văn bản được ký, ban hành chính thức). Đồng thời bổ sung quy định giao Chính phủ quy định việc gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước đối với văn bản điện tử bí mật nhà nước.
2.15. Gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước (Điều 20)
Để khắc phục vướng mắc, bất cập trên thực tiễn, Luật bổ sung quy định việc gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước đối với trường hợp thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước kết thúc trước thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 19. Việc bổ sung quy định này nhằm khắc phục vướng mắc trong bảo vệ tài liệu bí mật nhà nước về hoạt động thanh tra, giải quyết tố cáo, hoạt động bắt, khám xét do lý do khách quan mà không thể tiến hành nhưng đã hết thời hạn bảo vệ thì cần thiết phải tiến hành gia hạn để phòng ngừa lộ bí mật nhà nước. Đồng thời bổ sung quy định giao Chính phủ quy định việc gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước đối với văn bản điện tử bí mật nhà nước.
2.16. Điều chỉnh độ mật (Điều 21)
Quy định về điều chỉnh độ mật cơ bản được kế thừa từ Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018; có sửa đổi, bổ sung thẩm quyền điều chỉnh độ mật cho phù hợp với việc sửa đổi thẩm quyền xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước và giao Chính phủ quy định chi tiết việc điều chỉnh độ mật văn bản điện tử bí mật nhà nước.
2.17. Giải mật (Điều 22)
Kế thừa quy định tại Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018, Luật giữ nguyên quy định về các trường hợp giải mật; thủ tục giải mật trong trường hợp thành lập hội đồng; có sửa đổi, bổ sung cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức xác định bí mật nhà nước cũng có thẩm quyền quyết định giải mật trong trường hợp thành lập hội đồng nhằm tăng cường phân cấp, phân quyền trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước; đồng thời sửa đổi quy định giải mật trong trường hợp sử dụng bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức khác mà bí mật nhà nước đó đã được giải mật, có thông báo giải mật thì không phải thành lập hội đồng giải mật.
2.18. Tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước (Điều 23)
Nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính nội bộ, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 bãi bỏ quy định tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ Tối mật, độ Mật phải thành lập hội đồng. Theo đó, việc thành lập hội đồng chỉ thực hiện đối với việc tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ Tuyệt mật và giao Chính phủ quy định thủ tục tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ Tối mật, độ Mật.
2.19. Trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức (Điều 24)
Kế thừa quy định tại Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018, Luật giữ nguyên quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước; Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước; Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý; Ban Cơ yếu Chính phủ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực cơ yếu.
Luật bổ sung quy định các ban, bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm quyết định biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống xâm phạm bí mật nhà nước đối với “mạng LAN độc lập”; sử dụng máy tính, thiết bị đã dùng để soạn thảo, lưu giữ bí mật nhà nước; sử dụng máy tính, thiết bị có lịch sử kết nối với mạng máy tính (trừ mạng LAN độc lập), mạng Internet, mạng viễn thông để soạn thảo, lưu giữ bí mật nhà nước; triển khai, sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước (điểm đ, điểm e khoản 3 Điều 24). Đây là quy định mới được bổ sung trong Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 nhằm phù hợp với chủ trương tăng cường phân cấp, phân quyền trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước, phù hợp với điều kiện thực tiễn của cơ quan, tổ chức, địa phương và nâng cao trách nhiệm, tăng tính chủ động trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước của của cơ quan, tổ chức, địa phương.
2.20. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước (Điều 25)
Quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước cơ bản được kế thừa từ Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018; Luật bãi bỏ quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước phải xây dựng nội quy bảo vệ bí mật nhà nước cho phù hợp với thực tiễn công tác bảo vệ bí mật nhà nước. Theo đó, cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước tổ chức triển khai công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, văn bản hướng dẫn thi hành và quy chế bảo vệ bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức cấp trên.
- Những nội dung cơ bản cần lưu ý trong quá trình thực hiện Luật
3.1. “Mạng LAN độc lập” là mạng được giới hạn trong phạm vi một trụ sở cơ quan, tổ chức, đơn vị, không kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông. Đối với đơn vị có 02 trụ sở độc lập trở lên, được tách riêng ở 02 địa chỉ khác nhau thì khi kết nối mạng máy tính với nhau không được xác định là “mạng LAN độc lập” theo quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 và mạng này khi sử dụng để soạn thảo, lưu giữ, truyền đưa, gửi, nhận bí mật nhà nước phải sử dụng giải pháp mã hóa cơ yếu hoặc quy định khác của pháp luật có liên quan.
3.2. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 bổ sung quy trình bảo vệ đối với cả tài liệu bí mật nhà nước là dự thảo văn bản. Theo đó, dự thảo văn bản chứa nội dung bí mật nhà nước phải được người soạn thảo đề xuất người có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước và đóng dấu chỉ độ mật, dấu thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước để bảo vệ, phòng ngừa lộ, mất bí mật nhà nước, làm căn cứ xử lý hành vi vi phạm. Như vậy, quy trình bảo vệ và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước đối với dự thảo văn bản chứa nội dung bí mật nhà nước được thực hiện tương tự như tài liệu bí mật nhà nước được ký, ban hành chính thức.
3.3. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 đã bãi bỏ quy định về thủ tục xin phép mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác ở trong nước để giảm bớt thủ tục hành chính nội bộ và phù hợp với thực tiễn công tác bảo vệ bí mật nhà nước hiện nay. Tuy nhiên, việc mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác trong nước phải đảm bảo nguyên tắc liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ được giao (người được giao nhiệm vụ xử lý, giải quyết công việc liên quan đến tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước mang ra khỏi nơi lưu giữ) và có trách nhiệm, biện pháp bảo vệ an toàn không để xảy ra lộ, mất tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.
3.4. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 quy định việc tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ Tối mật, độ Mật không phải thành lập hội đồng nhằm phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm tối đa thủ tục hành chính nội bộ. Tuy nhiên, tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước là hoạt động quan trọng, bí mật nhà nước bị tiêu hủy sẽ không thể khôi phục để sử dụng tiếp. Do đó, khi triển khai thực hiện quy định này cần phải xem xét, đánh giá thận trọng, chỉ thực hiện tiêu hủy khi tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đã hết giá trị sử dụng, không cần thiết phải lưu giữ và cần có biện pháp kiểm soát, quản lý chặt chẽ để tránh tình trạng lạm dụng quy định mở tại Luật để tiêu hủy.
3.5. Thực tiễn hiện nay, nhiều cơ quan, tổ chức, địa phương có nhu cầu tận dụng máy tính đã từng kết nối với mạng Internet để soạn thảo, lưu giữ bí mật nhà nước, nhưng Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 nghiêm cấm hành vi này nên nhiều cơ quan, tổ chức, địa phương gặp khó khăn trong sử dụng khi máy tính này được bảo đảm an ninh, an toàn. Để khắc phục vướng mắc, bất cập nêu trên, Luật Bảo vệ bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 đã bổ sung quy định cho phép các ban, bộ, ngành, địa phương được sử dụng máy tính này để soạn thảo, lưu giữ bí mật nhà nước khi đã được bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống xâm phạm bí mật nhà nước.
3.6. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 cho phép triển khai, sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo vào công tác bảo vệ bí mật nhà nước để phù hợp với chủ trương tăng cường ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào mọi mặt công tác và đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, nhưng quá trình triển khai cần lưu ý tuân thủ các quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (như hệ thống phần mềm phải đảm bảo an ninh, an toàn, máy tính cài đặt phần mềm không được kết nối mạng Internet, mạng viễn thông…), đặc biệt là vi phạm các quy định bị nghiêm cấm tại Luật. Ngoài ra, cần phải tuân thủ quy định của Luật An ninh mạng, Luật Cơ yếu, Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Trí tuệ nhân tạo; trong đó, cần chú ý nghiên cứu quy định tại Luật An ninh mạng và Luật Trí tuệ nhân tạo vừa được thông qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.
BLog đề cương tuyên truyền pháp luật Đề cương tuyên truyền văn bản luật
