Đề cương tuyên truyền Luật Tần số vô tuyến điện năm 2022

Ngày 09 tháng 11 năm 2022, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện (Luật Tần số vô tuyến điện năm 2022), có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2023..

Decuongtuyentruyen.com biên soạn và giới thiệu tới bạn đọc đề cương tuyên truyền Luật Tần số vô tuyến điện năm 2022 gồm có 2 phần: Phần 1. Sự cần thiết ban hành Luật Tần số vô tuyến điện năm 2022. Phần 2. Những nội cơ bản và điểm mới của Luật Tần số vô tuyến điện năm 2022.

Phần 1. Sự cần thiết ban hành Luật Tần số vô tuyến điện năm 2022

Luật Tần số vô tuyến điện được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 6 ngày 23/11/2009 và Chủ tịch nước công bố theo Lệnh số 19/2009/L-CTN ngày 04/12/2009 có ý nghĩa to lớn trong việc quản lý hoạt động và phát triển lĩnh vực vô tuyến điện, đánh dấu một mốc quan trọng về sự nỗ lực của ngành thông tin và truyền thông nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho lĩnh vực thông tin vô tuyến điện của đất nước.

Triển khai thực hiện Luật, Bộ TTTT và các cơ quan có liên quan đã tổ chức xây dựng các văn bản để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành gồm: 08 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 63 Thông tư.

Đề cương tuyên truyền Luật Tần số vô tuyến điện năm 2022
Đề cương tuyên truyền Luật Tần số vô tuyến điện năm 2022

Luật Tần số vô tuyến điện và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã góp phần thúc đẩy sự phát triển  thông tin vô tuyến điện, thúc đẩy ứng dụng các công nghệ hiện đại sử dụng hiệu quả tài nguyên tần số vô tuyến điện đồng thời giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tần số vô tuyến điện.

Thông tin vô tuyến đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn phát triển kinh tế số. Đặc biệt, đối với tiến trình xây dựng, phát triển nền kinh tế số, xã hội số, Internet vạn vật (IoT) và Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, hạ tầng viễn thông nói chung và thông tin vô tuyến điện nói riêng chuyển từ vai trò cung cấp dịch vụ sang vai trò làm hạ tầng số cho nền kinh tế số.

Văn kiện Đại hội 13 của Đảng đã nêu rõ: xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số; quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên; hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững.

Trước đó, Nghị quyết số 52/NQ-TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đưa ra mục tiêu “đến năm 2030 mạng di động 5G phủ sóng toàn quốc, mọi người dân được truy cập Internet băng thông rộng với chi phí thấp”.

Để tiếp tục đạt được mục tiêu phát triển 5G, đồng thời phát triển thông tin vô tuyến điện, góp phần đạt được mục tiêu của Nghị quyết về chỉ số đổi mới sáng tạo, phát triển mạnh mẽ kinh tế số, về phát triển khoa học – công nghệ; khai thác hiệu quả tài nguyên, nguồn lực, trong đó có tài nguyên tần số, Bộ TTTT thấy rằng các chủ trương này cần được thể chế kịp thời trong Luật Tần số vô tuyến điện, đồng thời xử lý những vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn quản lý như việc quản lý, sử dụng tần số có giá trị thương mại cao; việc quản lý, sử dụng tần số trong sản xuất, nghiên cứu khoa học; việc quản lý đào tạo, cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ chủ quyền về tần số và quỹ đạo vệ tinh … Bên cạnh đó, sau khi Luật Tần số vô tuyến điện ra đời đến nay, hệ thống pháp luật đã có nhiều thay đổi, nhiều luật mới có liên quan đến nội dung của Luật Tần số vô tuyến điện đã được ban hành, trong đó có Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Đấu giá tài sản 2016… Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Tần số vô tuyến điện là thực sự cần thiết. Cụ thể như sau:

  1. Công tác cấp phép sử dụng tần số vô tuyến điện trong thời gian qua đã bộc lộ một số hạn chế và thiếu đồng bộ trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể:

1.1. Về tần số được đấu giá, thi tuyển quyền sử dụng tần số vô tuyến điện

Luật Tần số vô tuyến điện quy định đấu giá, thi tuyển quyền sử dụng tần số vô tuyến điện đối với các băng tần, kênh tần số có giá trị thương mại cao, có nhu cầu sử dụng vượt quá khả năng phân bổ xác định trong quy hoạch tần số vô tuyến điện; Thủ tướng Chính phủ quyết định băng tần, kênh tần số được đấu giá, thi tuyển theo từng thời kỳ. Với quy định mang tính định tính như vậy sẽ rất khó để Thủ tướng Chính phủ quyết định băng tần nào được đấu giá, băng tần nào được thi tuyển.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy băng tần được sử dụng để cung cấp dịch vụ thông tin di động mặt đất công cộng được nhiều nước trên thế giới đấu giá hoặc thi tuyển vì đây là băng tần “quý hiếm”, có thể mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp được quyền khai thác, sử dụng băng tần đó. Đối với băng tần, kênh tần số khác, sử dụng trong các hệ thống vô tuyến điện như mạng taxi, hàng không, hàng hải, dẫn đường, định vị, nghiệp dư, … chỉ phục vụ thông tin liên lạc, điều hành của chính tổ chức, cá nhân đó thường được các nước cấp trực tiếp, không đấu giá, thi tuyển. Đối với kênh tần số để cung cấp dịch vụ truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình rất ít nước (Mỹ, New Zealand) đấu giá, đồng thời việc đấu giá quyền sử dụng tần số thường gắn với quyền cung cấp nội dung, còn ở Việt Nam quyền làm nội dung là giấy phép báo chí riêng.

Tại Việt Nam, băng tần được sử dụng để cung cấp dịch vụ thông tin di động mặt đất công cộng cũng rất khan hiếm, trong khi các băng tần, kênh tần số khác vẫn có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng của các tổ chức, cá nhân.

Vì vậy, với loại băng tần đã rõ, cần cấp phép theo cơ chế thị trường để quản lý tài nguyên hiệu quả, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế như băng tần được sử dụng để cung cấp dịch vụ thông tin di động mặt đất công cộng, Bộ TTTT đề nghị quy định ngay trong Luật áp dụng phương thức đấu giá và chỉ thực hiện thi tuyển đối với loại băng tần này khi Nhà nước cần sớm hoàn thành mục tiêu phát triển viễn thông quốc gia (như cần đạt tỷ lệ dân số hoặc diện tích được phủ sóng di động công nghệ mới trong thời hạn nhất định kể từ ngày được cấp phép tần số). Để xử lý các tình huống dự phòng phát sinh, cần đấu giá, thi tuyển các băng tần, kênh tần số khác ngoài băng tần sử dụng để cung cấp dịch vụ thông tin di động mặt đất công cộng, Bộ đề nghị Chính phủ quyết định đấu giá hoặc thi tuyển đổi với từng trường hợp cụ thể.

1.2. Về cấp giấy phép sử dụng băng tần khi giấy phép đã cấp đã được gia hạn tối đa hết thời hạn sử dụng (cấp mới giấy phép)

Theo quy định của Luật Tần số vô tuyến điện, đối với các băng tần có giá trị thương mại cao và nhu cầu sử dụng vượt quá khả năng phân bổ thì sau khi giấy phép đã được gia hạn tối đa hết thời hạn sử dụng có hai hình thức cấp phép là Nhà nước sẽ thu hồi để đấu giá hoặc thi tuyển cho chu kỳ 15 năm tiếp theo của giấy phép. Quy định này sẽ cản trở các doanh nghiệp liên tục đầu tư, phát triển công nghệ mới khi vòng đời công nghệ đang ngày càng ngắn lại, chỉ còn 5 – 7 năm, nên không cải thiện được chất lượng dịch vụ viễn thông, nhất là ở giai đoạn giấy phép sắp hết hạn. Do đó, cần có chính sách xử lý băng tần sau khi giấy phép hết hạn sử dụng hợp lý, phù hợp để khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh tốt, cung cấp dịch vụ ổn định cho người sử dụng yên tâm đầu tư dài hạn, đồng thời vẫn đảm bảo các mục tiêu quản lý, khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công có hiệu quả, công khai, minh bạch, đúng pháp luật trong giai đoạn 15 năm tiếp theo của giấy phép.

1.3. Về hạn mức sử dụng tần số trong hoạt động viễn thông

Luật Tần số vô tuyến điện tại Điều 10 quy định nguyên tắc chung khi quy hoạch băng tần: bảo đảm quản lý, sử dụng tần số vô tuyến điện hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích; không có quy định về hạn mức tần số mỗi doanh nghiệp được phép nắm giữ đối với băng tần để triển khai mạng viễn thông.

Thực tế, băng tần di động  là đầu vào thiết yếu để doanh nghiệp thông tin di động triển khai mạng lưới, kinh doanh và cung cấp dịch vụ viễn thông cho khách hàng. Doanh nghiệp càng nắm giữ nhiều  băng tần di động thì sẽ càng có lợi thế cạnh tranh trên thị trường viễn thông. Nếu không có chính sách quản lý phù hợp về hạn mức tần số mà một doanh nghiệp được phép nắm giữ đối với các băng tần này thì có thể làm tích tụ tài nguyên ở một hoặc hai doanh nghiệp, gây ra tình trạng độc quyền, làm giảm tính cạnh tranh của thị trường viễn thông. Do vậy, cần thiết phải quy định về hạn mức sử dụng tần số đối với các băng tần di động trong hoạt động viễn thông trong Luật.

1.4. Về thu hồi giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện

Luật Tần số vô tuyến điện đã quy định thu hồi giấy phép trong trường hợp “không nộp phí sử dụng tần số vô tuyến điện và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên do Luật hiện hành chưa có quy định cụ thể thế nào được hiểu là “không nộp”, nộp một phần thì có được coi là “không nộp” hay không và quy trình thủ tục thu hồi giấy phép để đảm bảo sự chặt chẽ, minh bạch của các quy định và không làm ảnh hưởng đến quyền lợi người sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp, cho nên trên thực tế quy định trên không thực thi được. Dự án Luật sửa đổi, bổ sung sẽ làm rõ vấn đề này.

Ngoài ra, để đảm bảo tần số được sử dụng hiệu quả, mang lại lợi ích tốt nhất cho xã hội, cũng cần đưa vào Luật quy định về thu hồi giấy phép trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện cam kết về triển khai mạng viễn thông đối với băng tần được cấp thông qua đấu giá, thi tuyển quyền sử dụng tần số vô tuyến điện và được cấp mới giấy phép sau khi đã được Nhà nước cho phép khắc phục vi phạm cam kết.

1.5. Về cấp phép tần số trong các trường hợp nghiên cứu thử nghiệm công nghệ mới, sản xuất thiết bị để xuất khẩu… không phù hợp với các quy hoạch tần số và các quy chuẩn kỹ thuật

Sóng vô tuyến điện truyền lan tự do trong không gian, không bị giới hạn bởi địa giới hành chính. Vì vậy, để hạn chế nhiễu có hại, Liên minh Viễn thông quốc tế đã quy định mỗi khu vực có quy hoạch sử dụng tần số riêng. Theo đó, một thiết bị vô tuyến điện có thể được phép sử dụng ở quốc gia này nhưng không được phép sử dụng ở quốc gia khác do không phù hợp với quy hoạch. Luật Tần số vô tuyến điện cũng quy định việc quản lý, cấp giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện phải phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật và các quy hoạch tần số vô tuyến điện.

Nhà nước đang khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu, thử nghiệm thiết bị vô tuyến điện công nghệ mới, đầu tư, sản xuất để xuất khẩu thiết bị vô tuyến điện ra thị trường nước ngoài. Trong một số trường hợp cần thiết (như tổ chức các sự kiện quốc tế), Nhà nước cho phép các tổ chức nước ngoài được mang các thiết bị vô tuyến điện theo quy hoạch, quy chuẩn nước ngoài vào sử dụng tại Việt Nam. Những trường hợp này thường không phù hợp với các quy chuẩn, quy hoạch tần số vô tuyến điện của Việt Nam

Do đó, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài (Apple, Samsung,..) phát triển hoạt động sản xuất để xuất khẩu, nghiên cứu, thử nghiệm thiết bị vô tuyến điện tại Việt Nam,… thì cần phải sửa đổi quy định của Luật Tần số vô tuyến điện để vừa không hạn chế sự phát triển hoạt động nghiên cứu sản xuất vừa có thể phòng ngừa khả năng can nhiễu với các hệ thống thông tin vô tuyến điện khác.

1.6. Về miễn giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện

Luật Tần số vô tuyến điện quy định miễn giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện đối với thiết bị vô tuyến điện hoạt động ở cự ly ngắn, có công suất hạn chế, ít khả năng gây nhiễu có hại. Thực tế, các tiêu chí miễn cấp phép như cự ly ngắn hay công suất hạn chế là không giống nhau đối với tất cả các thiết bị vô tuyến điện vì mỗi tần số hoạt động khác nhau thì các thông số này là khác nhau. Việc quy định cự ly ngắn/ công suất hạn chế đều với mục tiêu cuối cùng là để đảm bảo thiết bị ít khả năng gây nhiễu có hại. Do đó, Bộ TTTT đề nghị sửa đổi để làm rõ nội dung này.

1.7. Về cấp phép thử nghiệm mạng và dịch vụ viễn thông

Trên thực tế, hoạt động thử nghiệm mạng và dịch vụ viễn thông thường diễn ra trong thời gian ngắn (1-2 năm) để thử nghiệm công nghệ viễn thông mới hoặc thử nghiệm để đánh giá thị trường trước khi chính thức cung cấp dịch vụ viễn thông. Luật Tần số vô tuyến điện chưa có quy định về việc cấp phép tần số trong trường hợp này, do vậy dự án Luật cần bổ sung, hoàn thiện để đồng bộ với Luật Viễn thông.

  1. Cần đồng bộ với quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 về các khoản thu mà tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ thực hiện khi sử dụng tài nguyên tần số vô tuyến điện

Ngoài phí sử dụng tần số vô tuyến điện và lệ phí cấp giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện, Luật Tần số vô tuyến điện mới chỉ quy định khi cấp phép các băng tần, kênh tần số có giá trị thương mại cao thông qua đấu giá thì thu thêm khoản tiền trúng đấu giá, bản chất là tiền cấp quyền sử dụng tài nguyên theo Luật Quản lý sử dụng tài sản công.

Thực tế, đối với các băng tần dành cho thông tin di động mặt đất công cộng, khi cấp phép thông qua đấu giá, thi tuyển hoặc cấp trực tiếp các nước thường thu một khoản tiền không chỉ để bù đắp chi phí quản lý tần số mà còn thể hiện quyền lợi thế của doanh nghiệp viễn thông trong việc có được phổ tần quý hiếm.

Để khai thác hiệu quả nguồn lực lực tài chính từ tài nguyên tần số vô tuyến điện và để thống nhất giữa Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Phí, lệ phí, Luật Tần số vô tuyến điện, phù hợp với thông lệ quốc tế thì cần bổ sung quy định về khoản thu tiền cấp quyền sử dụng tần số vô tuyến điện, đối tượng phải nộp để phản ánh giá trị kinh tế của phổ tần số vô tuyến điện đồng thời làm rõ  nội hàm khoản phí sử dụng tần số vô tuyến điện để sát thực với các chi phí hoạt động quản lý nhà nước.

  1. Công tác đào tạo và cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên chưa phù hợp với chủ trương xã hội hóa giáo dục, cần đẩy mạnh cải cách hành chính

Để phù hợp với quy định của Liên minh Viễn thông quốc tế – ITU, Luật quy định người trực tiếp khai thác đài vô tuyến điện hàng hải, hàng không, vô tuyến điện nghiệp dư phải có chứng chỉ vô tuyến điện viên nhằm bảo đảm thiết bị vô tuyến điện được vận hành an toàn bởi khai thác viên đạt chuẩn mực quốc tế và giao Bộ TTTT trực tiếp thực hiện việc đào tạo và cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên. Quy định này chưa thực sự phù hợp với chủ trương xã hội hóa trong giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước. Bộ TTTT thấy rằng cần đẩy mạnh cải cách hành chính trong công tác đào tạo, tổ chức thi và cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên, thông qua việc giao cho các tổ chức được Bộ TTTT công nhận đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của Chính phủ thực hiện, Bộ chỉ đóng vai trò quản lý, giám sát.

  1. 4. Cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình quản lý, khai thác, sử dụng đảm bảo tính an toàn, không can nhiễu và chủ quyền quốc gia về tần số vô tuyến điện

4.1. Để được Liên minh Viễn thông quốc tế – ITU công nhận chủ quyền sử dụng tần số và quỹ đạo vệ tinh (ví dụ tần số vô tuyến điện và quỹ đạo cho vệ tinh Vinasat 1,2) thì phải hoàn thành việc phối hợp tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh với các nước bị ảnh hưởng. Sau khi tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh được ITU công nhận, khi vệ tinh của Việt Nam vẫn đang hoạt động trên quy đạo, thì phải tiếp tục bảo vệ để không bị ảnh hưởng bởi các tần số vô tuyến điện, vệ tinh của nước ngoài được đăng ký sau này.

Hiện nay, Luật Tần số vô tuyến điện đã có quy định đầy đủ ở khâu đăng ký ban đầu bao gồm quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý và tổ chức, doanh nghiệp trực tiếp thực hiện phối hợp tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh với tổ chức nước ngoài nhưng chưa có quy định bảo vệ tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh này sau khi được ITU công nhận. Do đó, đề nghị bổ sung trách nhiệm của Bộ TTTT và của tổ chức sử dụng tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh trong việc kiểm tra, đánh giá các đăng ký tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh của nước ngoài có khả năng ảnh hưởng đến việc sử dụng tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh của Việt Nam.

4.2. Luật Tần số vô tuyến điện chỉ quy định các tổ chức, cá nhân sử dụng tần số vô tuyến điện và thiết bị vô tuyến điện trong khu vực nhiễu có hại có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành và tạo điều kiện để phát hiện, xử lý nhiễu. Tuy nhiên, trong quá trình xử lý nhiễu có hại những năm qua cho thấy nhiều vụ nhiễu có nguyên nhân từ các thiết bị không phải thiết bị vô tuyến điện mà từ các thiết bị điện, điện tử như nhiễu từ đèn huỳnh quang, máy ép công nghiệp,… trong khi Luật hiện hành chưa có chế tài cho phép cơ quan quản lý tiếp cận nguồn nhiễu này để tìm nguyên nhân và xử lý nhiễu, gây ảnh hưởng tới hoạt động, lợi ích của người sử dụng khác.

Do vậy, để tăng cường hiệu quả của công tác xử lý nhiễu có hại, đề nghị sửa đổi Luật Tần số vô tuyến điện để bổ sung trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sử dụng thiết bị điện, điện tử, thiết bị ứng dụng sóng vô tuyến điện trong việc phối hợp với cơ quan quản lý ở khu vực nhiễu có hại.

4.3. Cần bổ sung quy định cho phép trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến chủ quyền, an ninh quốc gia, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an được sử dụng tần số vô tuyến điện vô điều kiện và không phải tuân thủ các quy định về quy hoạch tần số vô tuyến điện và các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; các tổ chức, cá nhân sử dụng tần số cho mục đích kinh tế, xã hội phải dừng sử dụng tức thời và không có điều kiện nếu gây nhiễu có hại hoặc bị gây nhiễu có hại từ các trang bị, khí tài phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh.

4.4. Luật Tần số vô tuyến điện cũng cần sửa đổi để đồng bộ với Luật Xử lý vi phạm hành chính trong việc quy định về sử dụng các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính về tần số vô tuyến điện, nâng cao hiệu quả của công tác xử lý vi phạm.

Xuất phát từ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn quản lý nêu trên, đồng thời để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, cần thiết phải xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện.

Phần 2. Những nội cơ bản và điểm mới của Luật Tần số vô tuyến điện năm 2022.

Ngày 09 tháng 11 năm 2022, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XV , với 444/447 đại biểu Quốc hội có mặt biểu quyết tán thành, chiếm 89,16% tổng số đại biểu, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, có hiệu lực 01/7/2023.

Decuongtuyentruyen.com sẽ tiếp tục cập nhật những nội dung chính và điểm mới của Luật Tần số vô tuyến điện năm 2022 trong thời gian sớm nhất. Các bạn theo dõi thường xuyên để biết thông tin nhé.

Rubi

Giới thiệu Đề cương Tuyên truyền

Đề cương tuyên truyền pháp luật (trang web thành viên của https://trangtinphapluat.com): Nơi cung cấp các đề cương tuyên truyền, nghiệp vụ tuyên truyền pháp luật Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published.