Tình huống hòa giải ở cơ sở trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Decuongtuyentruyen.com giời thiệu tới bạn đọc Tình huống hòa giải ở cơ sở trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình năm 2026.

1.1. Câu chuyện 01:  

CHIẾC VỢT VỠ VÀ BÀI HỌC GIỮ LỬA GIA ĐÌNH

* Nội dung vụ việc

Anh A và chị B là hai vợ chồng trẻ, cuộc sống của họ không giàu sang nhưng đủ đầy, căn nhà nhỏ lúc nào cũng tràn tiếng cười. Vì chưa có con cái, nên hai vợ chồng có nhiều thời gian cho sở thích riêng. Anh A làm nhân viên IT, công việc áp lực khiến anh thường tìm đến game để giải trí, đây là đam mê của anh từ thời còn đi học. Mỗi tối sau giờ làm, anh thường ngồi trước màn hình say sưa, đôi khi quên cả thời gian. Cuối tuần còn rủ những người bạn cùng đam mê lập đội chơi đến khuya. Còn chị B – vợ anh –là nhân viên văn phòng, tính cách hoạt bát, thích vận động và đam mê thể thao, dạo trước chị hay đi đánh cầu lông, tập thể dục nhịp điệu, còn hiện tại theo phong trào chị tập tành chơi pickleball và bị trò chơi này thu hút. Gần đây chị tập luyện nhiều vì chuẩn bị tham gia một giải phong trào của Công ty.

Thế nhưng vì mải mê tập luyện, chị B có phần xao nhãng việc nhà: quần áo chưa gấp, cơm tối muộn, nhà cửa chưa dọn dẹp. Ban đầu anh A cũng ủng hộ vợ đi tập còn mua cho vợ đôi giày mới và đưa đón vài buổi đầu nhưng thấy vợ về trễ thường xuyên, anh A bắt đầu khó chịu, nhất là khi thấy vợ mặc mấy bộ váy ngắn. Anh thấy bực mình vì vợ không quan tâm đến mình như trước, nghĩ vợ “lo chơi hơn lo gia đình”, trong khi bản thân anh không nhận ra mình cũng dành quá nhiều thời gian cho game mà ít làm việc nhà. Hai người ít khi nói chuyện thẳng thắn, mọi bực bội âm thầm tích tụ.

Một tối, anh A đi làm về mệt mỏi. Căn nhà lộn xộn, cơm chưa nấu, chị B lại đang chuẩn bị đi tập. Thấy chị B lại khoác vợt đi tập. Anh hỏi, giọng hơi gắt:

Video tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Tình huống hòa giải ở cơ sở trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

– Em đi nữa à? Nhà cửa cũng không dọn?

Chị B nghe thấy thái độ của chồng thì khó chịu, nói xẵng:

– Em tập một chút thôi mà. Tý về em dọn, mà anh dọn thì có làm sao?

  • Anh A: Em chưa nấu cơm à?
  • Chị B: Em phải đi bây giờ, anh thích gì ra chợ mua ăn đi.

Cảm giác bực bội dồn nén bùng nổ. Anh cáu gắt, mắng vợ bỏ bê gia đình, mặc váy ngắn cũn cỡn đi đú đởn chứ tập luyện gì? Tự nhiên bị chồng xỉ nhục chị B cũng không chịu nhịn nói chồng cũng chơi game suốt ngày, chơi lâu thành nghiện, có lo cho gia đình đâu, hai bên lời qua tiếng lại, không ai chịu nhường ai. Khi thấy chị B đặt cây vợt lên bàn để buộc lại dây giày, trong cơn nóng giận, anh B không kiềm chế được đã đập nát cây vợt của chị B và nói cấm chị B đi chơi nữa.

Chị B sốc và tức giận, hai người cãi nhau kịch liệt, từ chuyện cây vợt thành chuyện trách móc nhau bao tháng nay: ai không quan tâm ai, ai bỏ bê gia đình, ai ích kỷ. Chị B đứng sững nhìn chồng, không thể nghĩ chồng mình vô lý đến vậy, mắt đỏ hoe. Rồi chị bật khóc, gào lên:

– Anh coi thường em đến vậy sao?

Trong cơn nóng nảy, chị B thậm chí buột miệng nói đến chuyện ly hôn:

– Sống vậy thì ly hôn đi cho rồi!

Anh A cũng mất kiểm soát:

– Ly thì ly!

Thấy chồng nói vậy, chị B im lặng nhưng trong lòng đau đớn. Chị thương chồng, nhưng cũng giận chồng quá đỗi. Anh A thì hối hận vì hành động bộc phát, nhưng lại ngại mở lời, sợ bị nói thêm.

Mấy hôm sau, hai vợ chồng không ai nói với ai câu nào, không khí trong nhà căng như dây đàn. Chị B không dám đi chơi pickleball nữa vì chị định đi là anh lại gầm lên bảo nếu đi thì đi luôn đừng có về cái nhà này nữa. Anh A cũng không thiết gì chơi game. Cả tuần liền như thế, chị B thấy ngột ngạt không chịu nổi, buồn bã tâm sự với chị hàng xóm về việc hai vợ chồng có thể ly hôn. Chị hàng xóm cũng khuyên chị B nên nhờ tổ hòa giải khu phố giúp giải quyết mâu thuẫn hai vợ chồng, vì chuyện cũng chưa nghiêm trọng đến mức ly hôn, để lâu lại càng khó giải quyết. Chị B lúc đầu còn e ngại, không muốn mọi người biết chuyện hục hặc của hai vợ chồng, nhưng cũng lo lắng nếu không được giải quyết kịp thời, thì không cứu vãn được gia đình. Anh A cũng muốn hòa giải vì không muốn căng thẳng thêm và cũng vì muốn mọi người biết là anh đúng.

* Quá trình hòa giải

Nhận được lời đề nghị hòa giải của chị B, tổ hòa giải khu phố đã tiếp nhận và hẹn anh A, chị B ở nhà vào cuối tuần để hòa giải mâu thuẫn giữa hai bên.

Tại buổi hòa giải, hòa giải viên ở khu phố nhẹ nhàng phân tích cho anh A và chị B rằng, cả hai vợ chồng đều có quyền theo đuổi sở thích riêng và cả hai vợ chồng cần tôn trọng quyền theo đuổi sở thích của nhau. Luật không cấm vợ chồng có đam mê riêng, miễn không vi phạm pháp luật và không ảnh hưởng tiêu cực đến gia đình. Anh A được chơi game để giải trí.  Chị B được tập thể thao để nâng cao sức khỏe. Nhưng vợ chồng cũng có nghĩa vụ chia sẻ trách nhiệm gia đình. Khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng, theo đó vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Như vậy, gia đình là của cả hai người, không phải của riêng ai. Mỗi người đều cần góp phần chăm lo nhà cửa, bữa ăn, tinh thần chung.

Tại buổi hòa giải hai vợ chồng được giãi bày tâm sự, để hai vợ chồng biết được cảm nhận của nhau, không được công kích nhau.

Chị B nghẹn ngào:

– Em đi tập nhiều, đúng là có lúc bỏ quên việc nhà. Nhưng em chỉ muốn khỏe mạnh, vui vẻ… Em không ngờ anh lại đập vợt của em. Lại còn nói em đi tập là đú đởn. Em thấy bị tổn thương lắm.

Anh A lặng im rồi nói nhỏ:

– Anh mệt mỏi nên dễ cáu bẳn. Anh cũng cảm giác em không còn quan tâm anh. Nhưng việc anh làm hôm đó là sai. Anh xin lỗi.

Lời xin lỗi khiến chị B rơm rớm nước mắt. Chị B hiểu rằng mình lơ là việc nhà một thời gian. Anh A cũng nhìn nhận việc đập vợt là hành vi nóng giận, hủy hoại tài sản gia đình và không phù hợp với tinh thần tôn trọng lẫn nhau.

Để tránh việc đáng tiếc sẽ xảy ra khi nóng giận, các hòa giải viên đã hướng dẫn anh A, chị B một số kỹ năng ứng xử trong quan hệ vợ chồng, tôn trọng quyền riêng tư của mỗi bên, đặc biệt là việc kiểm soát cảm xúc khi tức giận. Hai vợ chồng cần thẳng thắn góp ý, chia sẻ, động viên lẫn nhau với tinh thần xây dựng để gia đình luôn hạnh phúc, ngập tràn tình yêu thương. Thống nhất thời gian biểu: giờ tập, giờ chơi game, giờ cùng làm việc nhà; dành thời gian cho gia đình, ít nhất vài buổi/tuần để sinh hoạt chung, hâm nóng tình cảm.

* Kết quả hòa giải

Sau buổi hòa giải, anh A và chị B đã hóa giải được mâu thuẫn. Anh A xin lỗi vợ và hứa sẽ mua tặng cho chị một cây vợt mới. Chị B cũng xin lỗi hứa sẽ cân bằng công việc. Hai người cùng ký vào biên bản hòa giải thành, đồng ý không ly hôn, tiếp tục chung sống, tôn trọng sở thích của nhau và chia sẻ trách nhiệm gia đình. Buổi hòa giải kết thúc nhẹ nhàng, hai vợ chồng đều hiểu rõ rằng hôn nhân không tránh khỏi mâu thuẫn, nhưng điều quan trọng nhất là biết lắng nghe và cùng nhau vượt qua.

Từ hôm đó, anh A đặt giờ chơi game hợp lý hơn. Chị B cũng sắp xếp thời gian tập luyện để việc nhà không bị ảnh hưởng. Cuộc sống lại vui vẻ, và mỗi lần nhìn cây vợt mới treo trên tường, họ đều nhớ rằng: Hạnh phúc gia đình là sự nỗ lực của cả hai người, không chỉ trong những lúc yên bình, mà đặc biệt là trong những lúc giận dữ nhất.

Cả căn nhà bừng sáng như có nắng. Hóa ra, một cuộc hôn nhân bền vững không phải là không có cãi vã, mà là biết dừng lại đúng lúc và cùng nhau vá lại những vết rách. Hòa giải viên đã giúp họ nhìn ra thiếu sót của mình để họ tự hoàn thiện bản thân mỗi ngày, đó cũng là cách giữ gìn hạnh phúc. Vợ chồng thương nhau thì cùng gánh, giận nhau thì cùng bỏ qua. Điều quan trọng là đừng bao giờ để cơn nóng giận lớn hơn tình thương. 

1.2. Câu chuyện 02:

HÒA GIẢI MÂU THUẪN TRONG NGÔI NHÀ HAI THẾ HỆ

* Nội dung vụ việc

Anh D và chị C quen nhau trong Sài Gòn. Anh là người Bắc vào Nam lập nghiệp từ sớm, còn chị là cô gái miền Nam chân chất, hiền lành nhưng thẳng tính. Kết hôn xong, họ làm việc, tích góp, dự định mua căn nhà nhỏ rồi đón con đầu lòng.

Nhưng rồi đại dịch Covid ập đến. Công ty của anh D cắt giảm nhân sự, công việc của chị C cũng không còn. Tiền tiết kiệm dần vơi, chi phí sinh hoạt đắt đỏ khiến hai vợ chồng rơi vào cảnh khó khăn. Sau nhiều đêm suy nghĩ, anh D đề nghị:

– Hay vợ chồng mình về quê anh một thời gian. Ở ngoài đó chi phí rẻ, mẹ anh cũng giúp trông con cho hai vợ chồng

Chị C không mấy hào hứng, nhưng vì thương chồng và cũng muốn có môi trường ổn định cho con nên gật đầu. Chị không ngờ rằng quyết định ấy sẽ mở đầu cho chuỗi ngày đầy thử thách…của hai vợ chồng.

Về quê, họ sống chung với gia đình anh D, một gia đình hai thế hệ: mẹ chồng – một người phụ nữ Bắc truyền thống, tiết kiệm, sống nề nếp – và vợ chồng trẻ vốn quen lối sống thoải mái, hiện đại. Anh D đã tìm được công việc phụ xe tải, theo xe đi suốt ngày, cuối tuần mới tranh thủ về, tuy không được gần gia đình nhưng lương lại cao. Chị B thì tìm được công việc thời vụ gần nhà, tuy lương không cao nhưng có thời gian chăm con và chăm sóc gia đình.

Ban đầu, mọi việc êm ấm. Mẹ anh D thương con cháu, lo cho vợ chồng D từng bữa ăn. Chị C cảm kích lắm. Nhưng dần dần, những khác biệt bắt đầu bộc lộ.

Mâu thuẫn đầu tiên là từ cách nuôi con. Chị C cho con ăn theo phương pháp hiện đại, khoa học mà chị tham khảo trên mạng và trao đổi với nhóm mẹ bỉm sữa. Mẹ anh D lại quen chăm cháu theo kinh nghiệm truyền thống: “Cho con ăn bột sớm cho cứng cáp”, “Trẻ con phải ăn nhiều thịt mới khỏe, nhanh biết đi, ăn rau sẽ bấy”, “Đang ốm thì kiêng không tắm”, “Khóc thì bế lên quen hơi”… mẹ anh D không hài lòng với cách con dâu chăm cháu. Ban đầu chỉ là góp ý, sau thành phàn nàn. Chị C bị chạm tự ái mà cự nự với chồng “Mẹ cứ làm như em không biết chăm con vậy!”

Hai mẹ con lại mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày. Mẹ chồng thích sắp xếp đồ dùng theo ý mình: chén bát phải để bên phải, quần áo phải phơi theo thứ tự. Chị C thì thoải mái, làm gì cũng nhanh gọn. Nhiều lần chị vừa làm xong, mẹ chồng lại làm lại, khiến chị cảm thấy bị “xét nét”. Nhiều lần, chị C ấm ức, vì chị vừa rửa bát xong, lúc sau lại thấy mẹ chồng rửa lại, không nói ra nhưng chắc lại chê chị rửa bát không sạch như bà.

Trong chi tiêu hàng ngày, hai mẹ con cũng có mâu thuẫn. Chị C quen mua đồ theo nhu cầu, đôi khi muốn cho con một vài thứ tốt. Mẹ chồng thì rất tiết kiệm, thường xuyên nhắc:

– “Con gái nhà ai mà mua cái gì cũng không nhìn giá thế này à?”

– “Tiền bạc thời khó khăn, tiêu thế này thì sao mà chịu được!”

Chị C ấm ức. Còn mẹ chồng thì cho rằng con dâu “hoang phí”.

Chiều đó, chị đi chợ, mua cho con bộ đồ đẹp giá cao. Về mẹ chồng hỏi giá, chị cũng thật thà nói. Mẹ chồng nghe giá thấy đắt, nói nặng lời:

– Làm không ra tiền mà tiêu tiền như nước! Thằng D làm cật lực không đủ đút vào mồm!

Chị C đỏ mặt:

– Con tiêu bằng tiền con kiếm được, có xin ai đâu mẹ!

Câu nói ấy khiến mẹ chồng tự ái, bật cáu lên:

– À, cô cãi tôi đấy à. Mẹ chồng nói một câu, con dâu cãi một câu. Cái nhà này là của tôi, cô sống ở đây phải theo nếp nhà tôi!

Chị C ôm con khóc. Anh D đi làm về nghe tiếng cãi vã, lòng nặng trĩu.

  • Anh về xem vợ anh nó cãi tôi đây này.

Anh D can cả hai bên. Anh yêu mẹ vì mẹ đã tần tảo nuôi anh khôn lớn, thương vợ đã theo anh bôn ba, vì anh mà xa gia đình, nhưng không biết đứng về phía ai.

Đêm đó, chị C nghẹn ngào:

– Em không chịu nổi nữa. Em muốn đưa con vào Nam lại. Em không thể sống như thế này…Chuyện hôm nay chỉ là giọt nước tràn ly thôi. Bà can thiệp quá sâu vào cuộc sống gia đình mình. Anh không ở nhà, nhiều cái em đã nhịn rồi, cũng không nói để anh đỡ lo nghĩ. Nhưng mẹ coi thường em. Lúc nào cũng cho là em ăn bám anh. Nếu ở lâu em trầm cảm mất.

Anh D lo lắng thực sự. Anh không muốn xa vợ, xa con, cũng không muốn để mẹ ở tuổi xế chiều phải chịu buồn tủi. Anh thường phải đi xa, không thể thường xuyên ở nhà để hòa giải hai bên, mà anh đi ở nhà cứ căng thẳng thế này thì không ổn. Vợ anh mà bỏ đi thì sao? mẹ anh bực mình rồi ngã bệnh thì sao? Với mong muốn hòa giải mâu thuẫn giữa vợ và mẹ, anh tìm đến bác trưởng họ, cũng là tổ trưởng tổ hòa giải thôn, mong bác hòa giải giúp gia đình.

* Quá trình hòa giải

Vì bác tổ trưởng tổ hòa giải là bác trưởng họ của anh D, nên để buổi hòa giải được công bằng, minh bạch, bác tổ trưởng đề nghị mời thêm các hòa giải viên là bác trưởng thôn, một chị ở hội phụ nữ và một cô là cô giáo nghỉ hưu những người có kinh nghiệm trong công tác hòa giải ở cơ sở. Tổ hòa giải sau khi tìm hiểu vụ, việc đã thống nhất sẽ hòa giải theo đúng tinh thần Luật Hôn nhân và gia đình: tôn trọng quyền tự định đoạt và bí mật đời sống của vợ chồng, nhưng phải đảm bảo sự ổn định của gia đình.

Tổ hòa giải đã hẹn gia đình anh D đến nhà văn hóa thôn để thực hiện hòa giải. Lựa chọn như vậy, vì tổ hòa giải cho rằng nếu hòa giải tại nhà mẹ anh D, chị C sẽ cảm thấy mình ở thế yếu. Sau khi mọi người ngồi xuống, bác tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị mọi người lắng nghe bác nói và không phán xét ai đúng ai sai.

Bác tổ trưởng tổ hòa giải thôn nói:

– Chúng tôi đã biết được vụ, việc qua lời lời kể của anh D. Hôm nay, gọi mọi người lên đây để hòa giải mâu thuẫn gia đình. Mẹ anh D là người trong làng trong xóm, mọi người cũng có quen biết. Chị C mới về quê sống được hơn ba năm nay nhưng cũng là người xởi lởi, hay chuyện nên mọi người cũng quen biết. Có mâu thuẫn thế này là điều không ai mong muốn, nhưng gia đình muốn êm ấm thì cần hòa hợp của các thế hệ. Mâu thuẫn có thể do khác vùng miền nên khác tập quán. Không ai sai tuyệt đối, chỉ là chưa hiểu nhau. Qua buổi hôm nay, đề nghị các bên nói ra hết những khúc mắc trong lòng để hòa giải viên có thể giúp đỡ đưa ra cách giải quyết hợp lý hợp tình.

Chị C kể về những uất ức, cảm giác bị kiểm soát, bị coi là ăn bám chồng dù chị cũng đi làm có thu nhập. Mẹ chồng kể về nỗi lo tài chính khi con trai bà là trụ cột gia đình và trách nhiệm dạy dỗ con cháu. Anh D kể về áp lực khi đứng giữa hai người thân yêu nhất.

Sau khi phân tích căn nguyên mâu thuẫn. Hòa giải viên đồng thời là cán bộ hội phụ nữ nhẹ nhàng nói:

– Các em đã lớn và có gia đình rồi, dù sống chung với mẹ chồng, thì cô cũng nên tôn trọng quyền riêng tư của các em. Không thể vì mình lớn tuổi mà bắt con phải theo mình hết được cô ạ. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình, vợ chồng có quyền tự quyết về nuôi dạy con, quyết định chi tiêu, đời sống riêng. Cha mẹ chỉ được góp ý trong phạm vi hợp lý, không được can thiệp quá mức vào đời sống hôn nhân con cái. Cụ thể, Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình quy định nghĩa vụ của cha mẹ là phải thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con. Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình quy định các nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng theo đó, vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập. Anh D dù có đi làm nhiều tiền hơn thì đó là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng, cả hai vợ chồng đều có quyền định đoạt, tiêu theo nhu cầu. Miễn là không ảnh hưởng đến kinh tế chung của gia đình, khiến gia đình rơi vào khó khăn, nợ nần.

Mẹ chồng nói nhỏ: tôi chỉ muốn bảo ban chúng nó thôi, chứ có muốn can thiệp gì đâu.

Cô hòa giải viên tiếp lời:

– Nhưng luật cũng ghi rõ: các thành viên trong gia đình phải tôn trọng, quan tâm, chăm sóc người lớn tuổi. Chị C cũng nên thông cảm vì bác lo lắng cho cháu và gia đình. Điều 70 Luật Hôn nhân và gia đình quy định quyền và nghĩa vụ của con là được cha mẹ thương yêu, tôn trọng; con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

Chị C khẽ gật đầu: Em cũng biết mẹ cả đời tiết kiệm, lo cho chồng em nên người. Nhưng cuộc sống của hai vợ chồng em cũng không khó khăn đến mức phải tiết kiệm như vậy.

Tổ hòa giải đã phân tích giúp gia đình anh D hiểu rằng: Mẹ chồng sợ kinh tế khó khăn nên mới khắt khe. Chị C xa gia đình, sống trong môi trường mới nên nhạy cảm, dễ tủi thân. Anh D là người kết nối hai phía, cần nói rõ quan điểm nhưng lại không biết cách thể hiện. Phương án được tổ hòa giải thống nhất đưa ra để hòa giải hai bên là:

Đối với mẹ chồng cần tôn trọng quyền nuôi dạy con của vợ chồng D. Chỉ góp ý khi cần thiết, không can thiệp vào chi tiêu của con cái. Tạo không gian riêng cho vợ chồng trẻ.

Đối với chị C: Cố gắng chia sẻ với mẹ chồng những khó khăn của mình. Chi tiêu có kế hoạch hơn để mẹ an tâm. Tôn trọng những thói quen của người già.

Đối với anh D: Chủ động dung hòa hai bên. Chia sẻ việc nhà và chăm con để giảm áp lực cho vợ. Thường xuyên trò chuyện riêng với mẹ để mẹ cảm thấy được tôn trọng.

* Kết quả hòa giải

Buổi hòa giải kết thúc, ai nấy đều nhẹ lòng và ký vào biên bản hòa giải thành.

Một tháng sau, không khí trong nhà đã khác hoàn toàn. Chị C và mẹ chồng không còn căng thẳng. Họ bắt đầu hiểu nhau hơn. Có hôm mẹ chồng còn chủ động nhờ chị C hướng dẫn nấu món miền Nam. Chị C thì đem biếu mẹ lọ sữa canxi ngừa loãng xương. Anh D cũng tranh thủ về nhà nhiều hơn, phụ vợ chăm con, dành thời gian nói chuyện với mẹ. Nhờ vậy, cuộc sống gia đình trở lại êm ấm.

Tổ hòa giải đã giúp họ không chỉ giải quyết mâu thuẫn, mà còn hiểu nhau hơn – đúng với tinh thần của luật pháp và giá trị gia đình Việt Nam: Yêu thương, tôn trọng, chia sẻ và bao dung.

Cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Mâu thuẫn giữa các thế hệ, khác biệt vùng miền, áp lực kinh tế… đều có thể khiến gia đình rơi vào khủng hoảng. Nhưng khi có đối thoại, thấu hiểu, và tinh thần hòa giải đúng đắn, mọi vết nứt đều có thể được hàn gắn. Như bác trưởng thôn đã nói trong buổi hòa giải:

“Gia đình là tổ ấm của mỗi người. Mất thì dễ, giữ mới là điều cần dũng khí.”

 1.3. Câu chuyện 03

CHỮ “NHẪN” GIỮ LẤY TỔ ẤM

* Nội dung vụ việc

Anh Hùng và chị Yến từng là đôi vợ chồng hạnh phúc khiến cả xóm ngưỡng mộ. Ngày cưới anh, chị khóc vì sung sướng; ngày sinh con đầu lòng, anh nắm tay vợ hứa sẽ “không bao giờ để mẹ con chịu thiệt thòi”. Nhưng cuộc sống đâu chỉ toàn lời hứa đẹp.

Công việc của anh Hùng bận rộn và căng thẳng. Đồng nghiệp, đối tác thường xuyên mời nhậu. Ban đầu anh từ chối, nhưng dần dần anh biết rằng“không gặp nhau ở bàn nhậu thì khó làm việc”. Rồi nhậu nhiều thành thói quen – rượu bia trở thành một phần trong cuộc sống anh lúc nào không hay.

Cứ sau 10 giờ tối, chị Yến lại nghe tiếng xe anh đỗ ở cổng, hòa cùng mùi bia nồng nặc. Ban đầu chị khuyên nhủ nhẹ nhàng:

– Anh uống ít thôi, con chờ anh cả tối đó.

Nhưng lời nói của chị lọt thỏm giữa những lần anh cau có:

– Việc anh, để anh lo. Em nói nhiều quá!

Sự vô tâm của anh khiến chị Yến ngày càng tổn thương. Chồng đi sớm, về khuya; con nhỏ quấy khóc; việc nhà một mình cáng đáng. Chị mệt mỏi, tủi thân và bắt đầu cằn nhằn, nói lời khó nghe với chồng.

Những bữa cơm nguội lạnh, những tối không tiếng cười dần thay thế những buổi tối vui vẻ, hạnh phúc ngày trước. Lúc anh Hùng say, chị Yến nói nặng. Khi chị Yến bực, anh Hùng trả lời cay nghiệt. Từ cãi nhau nhỏ, họ chuyển sang quát tháo, rồi xô đẩy, mắng mỏ.

Một tối, chị Yến tức giận khi thấy chồng mở cửa về nhà lúc đêm khuya:

– Anh có bao giờ nghĩ cho vợ con không?

Anh Hùng đang say, dùng lời lẽ thô bạo:

– Sống không nổi thì đường ai nấy đi!

Video tuyên truyền LUật Phòng chống tác hại của rượu bia
Tác hại của rượu bia

Câu nói ấy như giọt nước tràn ly. Cô khóc suốt đêm, sáng hôm sau đưa đơn ly hôn cho anh:

– Em chịu hết nổi rồi. Em muốn giải thoát khỏi cuộc sống tù túng này.

Anh Hùng nhìn tờ giấy ấy mà lòng như nghẹn lại. Anh không muốn mất gia đình, nhưng cũng không biết bắt đầu thay đổi từ đâu.

Việc cãi vã của hai vợ chồng thường xuyên như cơm bữa. Hàng xóm biết chuyện, khuyên hai vợ chồng nên tìm đến tổ hòa giải để nhờ giải quyết mâu thuẫn. Nhưng với cái tôi lớn, hai vợ chồng đều không ai chịu nói. Cho đến một ngày hai vợ chồng xô xát đến bị thương. Bác Tư – tổ trưởng tổ hòa giải – quyết định mời hai vợ chồng đến nhà văn hóa của tổ dân phố để hòa giải.

* Quá trình hòa giải

Trong căn phòng nhỏ của tổ dân phố, anh Hùng và chị Yến ngồi đối diện nhau, ánh mắt tránh né. Tổ hòa giải gồm bác Tư, cô Lan hội phụ nữ và chú Minh – công an khu vực.

Bác Tư mở lời: Theo Luật Hôn nhân và Gia đình, vợ chồng phải tôn trọng, thương yêu, không được xúc phạm danh dự, nhân phẩm, không được bạo lực gia đình. Hai con có thể giận nhau, nhưng đánh mắng nhau là vi phạm pháp luật và làm tổn thương chính tình yêu của mình.

Anh Hùng cúi đầu. Chị Yến lau nước mắt.

Chú Minh nhẹ nhàng:

– Giờ mỗi người hãy nói tâm tư, nguyện vọng của bản thân, không chê trách, không đổ lỗi.

Anh Hùng thở dài:

– Tôi biết tôi sai. Nhưng áp lực công việc nhiều quá. Mà không nhậu thì không giải quyết được việc. Mỗi lần về nhà nghe vợ càm ràm, tôi lại nóng. Tôi không cố ý làm Yến buồn đâu.

Chị Yến nghẹn ngào:

– Em không ghét anh… Em chỉ sợ mất chồng, sợ con thấy cảnh bố say xỉn, em không muốn con coi bố như một tấm gương tồi. Em mệt quá, tự lo mọi thứ. Em cần anh, nhưng anh chẳng bao giờ ở nhà.

Anh Hùng nhìn vợ, mắt anh đỏ hoe. Đã lâu lắm rồi họ chưa nói chuyện thẳng thắn như thế.

Cô Lan hội phụ nữ khuyên bảo hai vợ chồng:  Người đàn ông áp lực hay tìm đến rượu. Người phụ nữ tủi thân nên nói nhiều. Hai vợ chồng đã từng yêu thương nhau mà giờ đối với nhau như hai kẻ thù thì có nên không, cô nghĩ hai cháu vẫn còn thương nhau nhiều lắm chỉ là không hiểu nhau thôi. Ly hôn không phải cách hay, còn tương lai con cái. Nếu còn thương nhau thì hãy cho nhau thêm một cơ hội sửa sai, giữ gìn tổ ấm gia đình, cho con cái có chỗ dựa, không bị bơ vơ.

Cả hai im lặng, nhưng sự im lặng ấy không còn gay gắt. Tổ hòa giải đưa ra phương án giải quyết mâu thuẫn để hai vợ chồng tự thỏa thuận. Anh Hùng hứa sẽ hạn chế việc đi nhậu, hạn chế về sau 10h tối; dành thời gian cho con mỗi ngày. Các hòa giải viên khuyên khi bực, anh nên đi ra chỗ khác thay vì mắng mỏ vợ, tránh xung đột leo thang. Chị Yến hứa sẽ không dùng lời lẽ xúc phạm, không cằn nhằn liên tục, thay bằng cách trao đổi nhẹ nhàng, chia sẻ cảm xúc với chồng đúng thời điểm, cho chồng cơ hội sửa đổi. Đối với cả hai vợ chồng cần phân chia việc nhà, thời gian chung dành cho gia đình. Một buổi trong tuần dành cho gia đình: đưa con đi chơi, ăn uống cùng nhau.

Nếu mâu thuẫn, liên hệ ngay với tổ hòa giải hỗ trợ xử lý trước khi bùng nổ, đánh nhau xô xát.

Anh Hùng nói nhỏ:  Anh sẽ cố. Anh thương con và em lắm, không muốn ly hôn.

Chị Yến nhìn anh, mắt cô long lanh: Em cũng muốn gia đình mình hạnh phúc như trước.

* Kết quả hòa giải

Sau đó, cả khu phố thấy anh Hùng khác hẳn. Anh bỏ dần uống rượu, về nhà sớm, chơi cùng con, tự nguyện rửa chén. Chị Yến thấy chồng thay đổi, cũng bớt căng thẳng, lời nói mềm mỏng hơn. Nhiều người bất ngờ khi thấy hai vợ chồng đi bộ tập thể dục mỗi chiều.

Một tối, khi con đã ngủ, anh Hùng nắm tay vợ:

– Cảm ơn em vì không bỏ anh.

Chị Yến dựa đầu vào vai chồng:

– Chỉ cần anh cố gắng, em sẽ luôn ở bên anh.

Mâu thuẫn nào trong hôn nhân cũng có nguyên nhân. Ly hôn đôi khi là giải pháp, nhưng không phải lựa chọn đầu tiên nếu hai người còn thương nhau.

Nhờ tổ hòa giải, nhờ tinh thần của Luật Hôn nhân và gia đình – đề cao thương yêu, bình đẳng, tôn trọng và trách nhiệm – chị Yến và anh Hùng đã cứu được cuộc hôn nhân tưởng chừng đổ vỡ. Và họ hiểu một điều:Hôn nhân không bền vì không cãi nhau – mà bền vì mỗi lần cãi nhau, đều chọn ở lại. Gia đình không phải để bỏ, mà để cùng sửa.

 

1.4. Câu chuyện 04

“KHI PHÁP LUẬT LÊN TIẾNG BẢO VỆ TRẺ NHỎ”

* Nội dung vụ việc

Anh Sinh và chị Mai từng vì yêu mà kết hôn, nhưng mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu ngày càng tăng đã khiến hôn nhân đi vào bế tắc. Sau nhiều lần hòa giải bất thành, họ ly hôn. Theo phán quyết của Tòa án thì chị Mai được quyền trực tiếp nuôi con và anh Sinh có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng. Chị Mai cùng con sống trong căn chung cư của hai vợ chồng, anh Sinh chuyển về sống cùng mẹ trong căn hộ gần đó. Trước đó, anh chị mua chung cư gần nhà bố mẹ chồng để có gì tiện qua chăm sóc.

Dù buồn nhưng anh Sinh vẫn chấp nhận xa con. Anh có điều kiện kinh tế hơn nhưng anh biết nếu phải xa con thì chị Mai cũng sẽ rất buồn. Anh thương con nên chu cấp cho con đầy đủ với mong muốn dù ly hôn nhưng con không phải thiếu thốn.

Nhưng mẹ anh thì khác, bà vốn không ưa chị Mai từ trước. Bà cho rằng con dâu “không xứng”, “không biết dạy con”, “lấy tiền của nhà bà”. Vì thế bà ép anh S không được đưa tiền cấp dưỡng, với hy vọng “Không có tiền, nó sẽ tự bỏ quyền nuôi con! Lúc đó con mình đón cháu về.” Bà thường xuyên đưa những thông tin không hay “Mẹ thấy nó dạo này ăn diện lắm, mày cứ gửi nhiều tiền thế, vào thằng bé được mấy, có khi toàn mẹ nó với nhà đẻ nó tiêu”, bà thường xuyên xúi con “Mày cứ không gửi tiền xem nó làm gì, giỏi thì tự mà nuôi con, không nuôi được đưa đây tao nuôi”. Anh Sinh vốn nghe lời mẹ, nên sau nhiều lần bà nói ra nói vào anh tạm ngừng chuyển tiền.

Khi chị Mai nhắn hỏi sao không chuyền tiền cho con định kỳ như đã thống nhất, anh Sinh nói làm ăn khó khăn, không có tiền. Vì ở gần nhau, qua hàng xóm chị biết mẹ chồng cấm cản, mà chồng thì nhu nhược nghe lời mẹ nên không cấp dưỡng nuôi con. Chị Mai dọa:

– Nếu anh không cấp dưỡng cho con là anh đã không làm tròn trách nhiệm của một người cha. Vậy thì cũng không có tư cách gặp con nữa. Không đưa tiền thì anh đừng trách!

Vậy là sau đó, chị Mai cấm anh Sinh và mẹ chồng gặp cháu. Mẹ chồng dù không ưa con dâu nhưng lại thương cháu, nên khi không được gặp cháu thì đến trường đón rồi định đưa cháu về nhà. Chị Mai quyết không cho mẹ chồng gặp cháu. Hai bên xảy ra tranh chấp, lời qua tiếng lại. Không ai chịu ai rồi xảy ra xô xát. Vụ việc mâu thuẫn sau đó được tổ hòa giải khu phố đứng ra giải quyết.

* Quá trình hòa giải

Trong phòng hòa giải có: Bác Tư – tổ trưởng, Cô Hạnh – hội phụ nữ, Chú Minh – công an viên. Anh Sinh, chị Mai, và mẹ anh Sinh cùng ngồi.

Không khí ban đầu căng thẳng. Chị Mai vừa giận vừa buồn. Anh Sinh thì xấu hổ. Mẹ anh Sinh thì vẫn giữ thái độ “tôi đúng”.

Bác Tư mở lời:

– Hôm nay chúng ta ở đây để giải quyết quyền lợi của đứa trẻ. Tranh cãi gì cũng được, nhưng không để ảnh hưởng đến con. Hai mẹ con đều không đúng khi tranh cãi trước mặt con cháu mình làm cháu sợ hãi rồi còn ảnh hưởng tâm lý nữa.

Cả phòng im lặng.

Cô Hạnh nhẹ nhàng giải thích: Theo Luật Hôn nhân và gia đình, dù cha mẹ đã ly hôn, con cái vẫn có quyền được cha mẹ chăm sóc đầy đủ. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con phù hợp với điều kiện kinh tế của mình, và không ai – kể cả cha mẹ của người đó – được phép cản trở. Nội dung này được quy định tại Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Theo đó, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.  Vợ, chồng được thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Như vậy, việc anh Sinh chu cấp hay cấp dưỡng cho con chung của hai người là đúng quy định của pháp luật và là quyền lợi chính đáng của đứa trẻ.

Rồi cô nhìn thẳng mẹ anh Sinh:

– Việc bác khuyên con trai không cấp dưỡng là trái luật, và gây thiệt cho chính cháu nội của bác. Theo quy định về cấp dưỡng thì nghĩa vụ cấp dưỡng của cha với con là bắt buộc và Tòa án đã có quyết định anh Sinh phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Anh Sinh cần tự giác thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn. Nội dung này được quy định tại Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Mẹ anh Sinh khựng lại. Chú Minh nói tiếp:

– Nếu không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, chị Mai có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành án. Nhưng hôm nay chúng ta cố gắng hòa giải để giữ hòa khí gia đình, cha mẹ cùng quan tâm nuôi dạy con.

Nếu anh Sinh tiếp tục không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 43 Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình quy định mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và bị buộc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, nuôi dưỡng theo quy định đối với các hành vi vi phạm. Hoặc trong trường hợp nghiêm trọng, nếu gây hậu quả cho trẻ, thậm chí bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Hình sự về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng: Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật Hình sự về tội không chấp hành án, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm..

Mẹ anh Sinh lặng người. Lần đầu tiên bà biết rằng cản trở như vậy có thể khiến con trai mình bị xử phạt. Mẹ anh Sinh không nghĩ sự việc lại nghiêm trọng vậy. Bà không hề muốn cả nhà bà phải ra tòa vì việc này.

Anh Sinh cúi đầu thừa nhận: Tôi biết tôi sai… nhưng tôi khó xử quá. Mẹ tôi bảo…

Thấy anh Sinh mãi không nói tiếp, cô Hạnh khuyên nhủ: Anh có thể thương mẹ, nhưng nghĩa vụ với con là trách nhiệm pháp lý và đạo đức. Không ai làm thay anh được.

Sau đó Tổ hòa giải đã ngồi lắng nghe tâm sự, giãi bày và nỗi lòng mỗi người

Chị Mai nói: Tôi nuôi con một mình rất áp lực. Tôi không cần tiền vì bản thân, mà để con được đầy đủ. Tôi không muốn giành giật con, nhưng anh ấy không biết chăm con. Mẹ chồng tôi thì luôn không ưa tôi, hay nói xấu tôi với con mong con tôi ghét mẹ, nên tôi không muốn con tôi ở đó. Tôi chỉ mong anh Sinh làm đúng trách nhiệm của người cha.

Anh Sinh nói: Tôi thương con, không bao giờ muốn nó thiệt. Nhưng tôi cũng chỉ có mình mẹ tôi thôi, bà bị bệnh cao huyết áp, tôi sợ bà nghĩ nhiều bệnh lại thêm nặng nên nghe lời bà cho bà vừa lòng. Chứ thực ra tôi cũng không muốn vậy.

Mẹ anh Sinh nói: Tôi sợ cháu tôi sống thiếu thốn… sợ nó không được dạy dỗ ở trường tốt trong khi nhà tôi có điều kiện. Tôi… tôi chỉ muốn cháu về với chúng tôi. Mà chị Mai cấm tôi gặp cháu cũng là sai.

Bác Tư mỉm cười hiền hậu:

– Bác thương cháu là đúng. Nhưng thương phải đúng cách. Cản trở cấp dưỡng không giúp bác giành cháu về – chỉ làm cháu khổ, và làm con bác phạm luật. Quyền nuôi con đã được tòa quyết định. Muốn thay đổi quyền nuôi con phải có căn cứ pháp lý rất rõ ràng, không thể ép bằng cách cắt tiền cấp dưỡng. Làm vậy chỉ khiến cháu thiệt thòi và khiến con trai bác vi phạm pháp luật.

Mẹ anh Sinh cúi mặt, thở dài.

Bác Tư nhìn chị Mai: Việc chị cấm anh Sinh và mẹ chồng gặp con cũng là không đúng quy định pháp luật. Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị cản trở như vậy là trái luật, anh S cũng có quyền kiện chị ra Tòa án để được gặp con, thậm chí đề nghị Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Chị Mai biết mình không đúng nên lý nhí nói: Vâng, cháu biết sai rồi ạ.

 * Kết quả hòa giải

Do các bên lúng túng, không biết nên giải quyết theo phương án nào, vì vậy tổ hòa giải gợi ý giải pháp giải quyết mâu thuẫn như sau:

Đối với anh Sinh: Tiếp tục cấp dưỡng cho con (cả phần cấp dưỡng còn thiếu trước đó) theo phán quyết của Tòa án, thống nhất chuyển khoản cố định hàng tháng để tránh mâu thuẫn, chủ động thăm con đúng lịch, không gây áp lực cho chị Mai.

Đối với chị Mai: Cam kết tạo điều kiện cho anh S thăm con; thông báo rõ ràng về các khoản chi lớn cho con (nếu cần); tránh dùng lời lẽ xúc phạm gia đình chồng cũ, cung cấp thông tin về chi phí nuôi con (đây là yêu cầu không bắt buộc nhưng giúp minh bạch số tiền cấp dưỡng), nếu nhận thấy mức cấp dưỡng quá thấp hoặc bị gián đoạn, có quyền đề nghị thi hành án.

Đối với mẹ anh Sinh: Bà cần hiểu rằng tiền cấp dưỡng là để nuôi con, không phải cho vợ cũ. Không được cản trở con trai thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo pháp luật; Tôn trọng quyền nuôi con đã được tòa quyết định; Có thể thăm cháu nếu chị Mai đồng ý, nhưng không gây áp lực về quyền nuôi con đối với anh Sinh.

Các bên suy nghĩ một lúc rồi thống nhất phương án do tổ hòa giải gợi ý, vì vậy, tổ hòa giải đã lập biên bản hòa giải thành và đề nghị các bên ký biên bản hòa giải thành. Hai vợ chồng cần giữ liên lạc qua nhóm chung trên Zalo chỉ để trao đổi chuyện của con.

Một tuần sau hòa giải, anh Sinh gửi tiền cấp dưỡng đúng hẹn.

Anh viết kèm tin nhắn: “Cảm ơn em đã chăm con. Anh sẽ làm đúng trách nhiệm của mình.”

Chị Mai trả lời ngắn: “Vì con, chúng ta cùng cố gắng.” Sau đó anh Sinh chị Mai thỏa thuận sẽ chuyển khoản tiền cấp dưỡng đều đặn vào ngày 10 hằng tháng

Mẹ anh Sinh, dù vẫn còn chút không hài lòng, nhưng dừng việc can thiệp. Bà thỉnh thoảng ghé thăm cháu và giữ thái độ nhẹ nhàng hơn với chị Mai.

Một buổi chiều, khi hai bên đưa con đi tiêm, đứa bé nắm tay cả bố lẫn mẹ, cười tươi. Cảnh ấy khiến mọi người nhận ra: trẻ con không cần một gia đình hoàn hảo. Trẻ con cần người lớn biết cư xử tử tế với nhau. Và nhờ buổi hòa giải ấy, họ đã tìm lại sự bình yên cần thiết để cùng nuôi dưỡng đứa trẻ – dù không còn sống chung, vẫn cùng chia sẻ trách nhiệm như những người trưởng thành.

 1.5. Câu chuyện 05

CHIA SẺ ĐỂ GIỮ GÌN GIA ĐÌNH

* Nội dung vụ việc

Anh Tiến và chị Lan kết hôn được năm năm. Họ có một con trai ba tuổi kháu khỉnh, là niềm vui của cả gia đình. Từ trước đến nay, hai vợ chồng sống hạnh phúc, ít xảy ra mâu thuẫn. Nhưng càng lâu, trong lòng chị Lan càng có một nỗi buồn khó nói vì anh Tiến gần như không chia sẻ việc nhà với vợ. Chị Lan vì kinh tế không bằng chồng nên ngầm chấp nhận rằng thôi thì người bỏ công, người bỏ của, cùng đóng góp xây dựng gia đình êm ấm, hạnh phúc. Nhưng có lẽ sự nhẫn nhịn ấy của chị lại bị chồng coi là hiển nhiên và có thái độ xem thường, không coi trọng công sức đóng góp của chị cho gia đình.

Mỗi ngày, sau giờ tan sở, anh Tiến về nhà, tắm rửa rồi ngồi xem ti vi hoặc đọc báo. Còn chị Lan thì sau khi tan sở, từ nấu cơm, giặt giũ, tắm cho con, dọn dẹp nhà cửa – tất cả đều một mình lo liệu. Nhiều lần chị nhắc khéo, nhưng anh đều gạt đi:

– Việc nội trợ là của phụ nữ, em làm là đúng rồi!

Hoặc lớn tiếng chê bai chị Lan:

  • Việc nhà có gì đâu mà em không làm được. Có mấy cái việc cỏn con cũng sánh với chồng.

Mỗi lần nghe câu đó, chị Lan lại cảm thấy bị xem thường, không được trân trọng. Nhưng để gia đình thuận hòa chị lại nín nhịn cho qua, dù bản thân thấy rất ấm ức. Nhưng có nói thì chồng cũng không chia sẻ, còn nói những lời tổn thương tới chị.

Hai tháng trước, cơ quan thông báo cử chị Lan đi học nâng cao trình độ trong 03 tháng tại tỉnh khác. Đây là cơ hội hiếm có để thăng tiến trong nghề. Chị Lan vui lắm, về nhà báo ngay cho chồng:

– Em được cơ quan cử đi học ba tháng. Em đã nhờ mẹ em lên chăm cháu giúp, anh xem có được không?

Không ngờ anh Tiến phản đối ngay:

– Không! Em đi rồi ai lo nhà cửa? Ai chăm con?

– Em nói rồi, bà ngoại sẽ lên mà anh.

– Nhà này anh không muốn người khác ở. Với lại em mà đi là mọi thứ đảo lộn hết!

Chị Lan gặng giải thích, anh Tiến càng bực. Hai người tranh cãi to tiếng.

Cuối cùng chị Lan bực quá, bật khóc:

– Em cũng đi làm như anh, cũng mệt như anh. Sao lúc nào anh cũng nghĩ việc nhà là của em vậy?

Anh Tiến quát lại:  Vì em là phụ nữ! có mỗi việc bếp núc cũng không xong!.

Câu nói ấy khiến chị Lan thực sự tổn thương. Hai vợ chồng tranh cãi nhiều lần rồi chiến tranh lạnh. Anh Tiến ra tối hậu thư nếu chị đi thì ly hôn, anh nuôi con, nói chị không chịu hy sinh vì gia đình. Lần này chị Lan cũng không nhượng bộ, vì cơ hội này đối với chị là cơ hội thăng tiến tốt, sẽ không có lần thứ hai vì chị đã hết tuổi, nếu thuận lợi chị có thể tăng lương và bớt phụ thuộc kinh tế vào người chồng gia trưởng. Tuy nhiên, chị cũng không muốn vì vậy mà ly hôn. Chuyện anh chị lục đục đã đến tai bác tổ trưởng tổ dân phố, cũng là chỗ quen biết với gia đình anh Tiến chị Lan. Qua tìm hiểu sự việc, bác thấy cả hai vợ chồng đều có lý của mình nhưng ai cũng khăng khăng là mình đúng. Bác nói để bác nhờ tổ hòa giải khu phố giải quyết mâu thuẫn cho hai vợ chồng. Anh Tiến cũng đồng ý để tổ hòa giải giúp giải quyết, anh muốn qua hòa giải để vợ biết rằng anh làm thế là tốt cho gia đình, còn không ly hôn anh cũng thừa sức nuôi con. Chị Lan thì muốn anh Tiến biết rằng anh vô lý như thế nào khi cấm cản vợ đi học. Bác tổ trưởng khuyên hai vợ chồng cần bình tĩnh để xử lý mọi việc. Tổ hòa giải có kinh nghiệm trong việc hòa giải các vụ việc tương tự trong khu phố nên bác mong là sẽ giúp hai vợ chồng giải quyết được khúc mắc.

* Quá trình hòa giải

Buổi hòa giải diễn ra vào cuối tuần tại nhà anh Tiến chị Lan. Tổ hòa giải gồm chị A và anh K là hòa giải viên, bác tổ trưởng tổ dân phố, anh Tiến, chị Lan và mẹ chị Lan.

Chị A bắt đầu bằng giọng nhẹ nhàng: Hôm nay chúng ta ngồi đây không phải để trách móc, mà để tìm cách giữ sự bình yên cho gia đình anh Tiến chị Lan. Sự việc mâu thuẫn ở đây là anh Tiến không cho chị Lan đi học nâng cao nghiệp vụ. Nhưng qua tìm hiểu thì mâu thuẫn giữa hai vợ chồng còn nhiều những khúc mắc khác nữa. Để hòa giải thành công thì anh chị hãy cho tổ hòa giải biết những khúc mắc này và cảm nghĩ của anh chị.

Chị Lan nói trong nước mắt:

– Chồng em không chia sẻ việc nhà. Em bận rộn cả ngày, về nhà lại làm hết mọi việc. Em rất mệt mỏi, em chỉ muốn anh chia sẻ để cảm thấy được an ủi, động viên… nhưng chồng em nói đó là trách nhiệm của phụ nữ. Em biết chồng Em gia trưởng, nhưng vì gia đình nên nhẫn nhịn. Nhưng chồng Em không có quyền cấm em đi học.

Anh Tiến nói:

– Tôi đi làm về cũng mệt. Việc mớ rau, quả trứng, con cá là của phụ nữ, từ xưa vẫn vậy… Đàn ông rửa bát, quét nhà còn ra thể thống gì nữa. Kinh tế gia đình tôi lo hết rồi. Không rượu chè, không cờ bạc, gái gú, các bác xem vợ tôi còn muốn gì nữa. Vợ tôi tuổi này rồi, đi học làm gì nữa, phụ nữ phải đặt gia đình lên hàng đầu. Lại còn đi học tỉnh ngoài tận 03 tháng. Bỏ chồng, bỏ con, chỉ nghĩ đến bản thân thôi, thế là ích kỷ, hay ho lắm ý.

Chị A khẽ mỉm cười:

– Em nói vậy là chưa đúng về bình đẳng giới và pháp luật hiện nay đâu.

Anh Tiến ngạc nhiên: Sao lại pháp luật? Chị đừng đưa pháp luật ra dọa. Cái này là truyền thống từ xưa đến nay rồi. Vợ phải nghe lời chồng. Chồng không đồng ý mà cứ đi học thì tan nát nhà cửa. Đi học thì xa, ai biết có chuyện gì.

Qua khai thác thêm, thì mọi người biết rằng anh Tiến ghen khi chị Lan đi học xa nhà. Chị A đã lấy Luật Hôn nhân và gia đình đặt lên bàn. Và phân tích pháp lý rõ ràng cho hai vợ chồng biết quyền và nghĩa vụ của mình.

Chị A nói: Anh Tiến ạ, theo Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong mọi mặt của đời sống gia đình. Nghĩa là không có chuyện việc nhà thuộc về phụ nữ. Cả hai phải cùng chia sẻ, cùng gánh vác, không phân biệt giới tính.

Anh Tiến nhìn xuống: Ối rồi, luật liếc gì thì chỉ tính từ viên gạch ở mép cửa trở ra. Chứ còn trong nhà này phải có trật tự quy củ, ai là chủ hộ gia đình.

Chị A tiếp tục: Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Chị A giải thích: “Nếu một người làm quá nhiều, còn người kia từ chối hỗ trợ, thì nghĩa vụ ‘giúp đỡ nhau’ bị vi phạm.”

Anh Tiến thở dài, bắt đầu hiểu vấn đề.

Anh K hòa giải viên nói thêm: Cùng là đàn ông, tôi cũng hiểu cho vợ đi học xa, anh còn có nhiều băn khoăn, nhưng hai vợ chồng sống cùng nhau bao nhiêu năm như vậy, chị ấy là người thế nào chả nhẽ anh còn không biết ư? Anh không cho chị ấy đi là không tin tưởng chị ấy. Đối với chị ấy cũng là một sự xúc phạm đấy. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Điều 21 quy định rằng vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau.

Việc chị Lan được cơ quan cử đi học là cơ hội phát triển nghề nghiệp, và chồng không được quyền cản trở. Điều 23 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Như vậy việc chị Lan được đi học là quyền của chị ấy, nếu anh cản trở là anh vi phạm pháp luật.

Chị A tiếp tục:

– Bây giờ, chúng ta không chỉ nói về luật, mà còn nói về tình. Ba tháng không phải quá dài, cũng có bà ngoại hỗ trợ. Chị Lan đi học để thăng tiến, khẳng định năng lực bản thân, sau này lợi cho cả gia đình. Nhưng anh Tiến cũng cần có vai trò của người cha.

Hòa giải viên đưa ra giải pháp theo luật và phù hợp với thực tiễn của gia đình anh Tiến chị Lan. Thứ nhất, cần chia việc nhà rõ ràng, phân công mỗi vợ chồng một việc, việc phân công có thể linh hoạt bảo đảm không ảnh hưởng đến công việc của hai vợ chồng.

Chị Lan đi học 3 tháng, bà ngoại sẽ hỗ trợ dọn dẹp, đưa đón cháu. Chị Lan cuối tuần có thể về thăm gia đình (nếu điều kiện cho phép). Hai vợ chồng nên gọi video mỗi tối để duy trì tình cảm.

Chị A nói:

– Anh Tiến ạ, con không chỉ cần mẹ, con cần cả bố nữa. Trẻ con sẽ thông minh và học toán tốt hơn nên được giao lưu với bố thường xuyên đấy.

Anh Tiến im lặng một lúc rồi nói: Tôi… tôi sẽ cố gắng giúp vợ việc nhà và chăm sóc con cái. Tôi không muốn không muốn con thiếu thốn sự chăm sóc của bố. Tôi cũng muốn vợ tôi được vui vẻ.

* Kết quả hòa giải

Sau buổi hòa giải, anh Tiến thay đổi rõ rệt. Buổi tối tự tắm cho con, Học cách nấu ăn đơn giản, chủ động dọn dẹp nhà cửa, động viên vợ chuẩn bị hành trang đi học. Ngày chị Lan lên đường, anh Tiến nắm tay vợ:

– Chúc em học tốt. Anh xin lỗi vì đã ích kỷ.

Chị Lan rơm rớm nước mắt. Chị biết lần này anh đã thực sự hiểu. Gia đình không phải là nơi phân vai theo giới tính, mà là nơi chia sẻ, yêu thương và tôn trọng nhau. Ba tháng đi học không dài không ngắn nhưng là thử thách nhỏ cho hạnh phúc của gia đình chị, giúp vợ chồng chị thêm yêu thương tin tưởng nhau hơn.

 1.6. Câu chuyện 06

MẢNH ĐẤT CỦA NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

* Nội dung vụ việc

Ông C là người nông dân hiền lành, cả đời gắn bó với ruộng vườn. Vợ ông – bà H – là người tần tảo, chịu thương, chịu khó, chung sống với ông hơn 20 năm. Gia đình ông có mảnh đất rộng 600m² được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ nhiều năm trước.

Trước khi đến với bà H, ông C từng có cuộc hôn nhân đầu và có hai người con: chị D và anh E. Sau khi vợ đầu qua đời, ông tái hôn với bà H. Hai người không có con chung, bà H cùng ông chăm sóc con cái, dựng vợ gả chồng cho các con đầy đủ. Quan hệ mẹ kế con chồng tuy không thân thiết vì khi lấy ông C, các con ông đã ở tuổi thiếu niên, nhưng cũng không có khúc mắc gì lớn

Tổng hợp tình huống hòa giải tranh chấp đất đai
Tổng hợp tình huống hòa giải tranh chấp đất đai

Ông C mất đột ngột sau một cơn tai biến. Bà H suy sụp tinh thần mất một thời gian khi nghĩ tới cảnh sẽ phải sống cô đơn ở tuổi xế chiều. Nhưng nỗi đau chưa nguôi thì một việc đau lòng khác xảy ra, một năm sau ngày ông mất, các con ông về đòi chia đất thừa kế. Bà đã gắn bó với ông hơn 20 năm, ngoài ngôi nhà và mảnh đất này thì bà cứ ở vậy, chứ sau này cũng cho hết các con chồng. Vậy mà các con chồng không thương bà, nghĩ đến lúc chăm sóc chúng, lo cho chúng học hành tử tế, chăm sóc lúc ốm đau như con đẻ mà bà thêm tủi thân và chạnh lòng.

Hôm đó, lo việc giỗ cho ông C xong, chị D và anh E bảo bà rằng:

– Ba con đã mất rồi, mảnh đất này là di sản thừa kế của ba con để lại, giờ phải chia đều theo pháp luật.

Bà H giật mình: Đất là của bố các con là đúng rồi, nhưng mẹ có giữ cho ai đâu, mẹ ở đây hương khói cho bố con, rồi vài năm nữa cũng đi theo ông ấy. Lúc đó các con chia thế nào cũng được.

Chị D cau mày: Nhưng đó là tài sản của ba. Ba mất không để lại di chúc, phải chia đều cho vợ và hai con chứ. Bọn con cũng nói là chia đều chứ có lấy hết đâu ạ.

Bà H phản đối:

– Tôi là người trực tiếp sống với ông ấy cùng ông ấy gây dựng tài sản. Lúc tôi về đây làm vợ ông ấy nhà ông ấy được mấy chục mét vuông. Là tôi và ba anh chị làm lụng vất vả, chắt chiu dành dụm mua thêm đất, xây lại ngôi nhà cấp 4 thành ngôi nhà 2 tầng khang trang như bây giờ. Sao giờ lại thành của riêng ông ấy. Lúc ông ấy ốm đau, anh chị ở xa không về được, có về cũng chỉ một chốc một nhát, cũng chỉ có tôi chăm sóc ông ấy ở viện cả tháng trời. Tiền viện phí mấy đứa đã phải chi ra đồng nào chưa? Lúc mấy đứa ra đời khó khăn tôi và ba anh chị đã bao giờ tiếc tiền cho anh chị chưa? Giờ ông ấy mất sớm? Còn lại mình tôi, anh chị cũng chưa phải nuôi ngày nào? Anh chị giờ đòi đất là ý gì? Nếu tôi là mẹ đẻ anh chị chắc gì anh chị đã đòi thế.

Anh D nóng nảy nói to:

– Bọn con cũng chỉ lấy đúng phần mình được hưởng thôi, có gì sai đâu. Công ơn của mẹ bọn con không quên. Nhưng cái gì ra cái đó. Mẹ không thể lấy đạo đức ra trói buộc bọn con như vậy được. Nếu mẹ không chịu thì chỉ còn nước ra pháp luật phân xử thôi.

Bà H gào to: ông ơi ông về mà xem con ông nó muốn đuổi tôi ra khỏi nhà này. Tôi chết thì cũng để lại hết cho chúng nó chứ tôi có con cái gì đâu.

Chị D khuyên: Mẹ đừng làm vậy bọn con cũng khó xử.

Không bên nào chịu bên nào, ai cũng có cái lý riêng của mình. Lời qua tiếng lại, mối quan hệ giữa hai bên ngày càng căng thẳng. Gia đình, họ hàng của bà H ông C xung quanh đó cũng khuyên giải nhiều và cũng hình thành hai phe bênh vực hai bên. Hàng xóm của Bà H ai cũng thương bà, chăm sóc con chồng tử tế mà bị đối xử như người dưng. Một vài người họ hàng ông C thì lại bênh các con ông C cho rằng bà H tham lam muốn chiếm hết tài sản ông C. Sự việc ngày càng căng thẳng, nhà bà H không khi nào được bình yên. Cứ mỗi khi chị D, anh E về là lại có cãi vã. Cuối cùng, để giữ hòa khí trong gia đình bà H, bác trưởng họ đã nhờ tổ hòa giải của thôn can thiệp, giải quyết giúp vì không muốn mấy mẹ con kiện tụng nhau ra tòa, mang tiếng cả họ. Bà H và chị D anh E cũng đồng ý vì cũng không muốn ra tòa kiện tụng.

* Quá trình hòa giải

Buổi hòa giải diễn ra tại UBND xã, buổi hòa giải có mặt: chú Q, bác M là hòa giải viên thôn. Cô K là đại diện Hội Phụ nữ. Và anh B là công chức xã phụ trách công tác tư pháp, Bà H, Chị D và anh E

Chú Q mở đầu:

– Chúng ta ở đây để giải quyết mâu thuẫn gia đình trong nhà bà H, việc giải quyết này được diễn ra trong hòa khí. Bác C đã mất chắc chắn cũng mong gia đình thuận hòa, không vì tài sản mà chia rẽ.

Không ai nói gì. Anh B căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phân tích pháp luật về thừa kế cho mọi người nghe. Mảnh đất ông C để lại được mua và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân giữa ông C và bà H nên được xác định là tài sản chung vợ chồng, không phải tài sản riêng của ông C dù tên trên Giấy chứng nhận chỉ có tên ông C.  Về quyền thừa kế đối với mảnh đất. Căn cứ điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hàng thừa kế thì vì ông C không để lại di chúc nên ba mẹ con bà H sẽ thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Theo đó, hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Điều đó có nghĩa là bà H, chị D và anh E đều có quyền thừa kế ngang nhau.

Bà H giật mình, ngước lên hỏi: Vậy tôi không được toàn bộ đất sao? Chúng có đóng góp gì trong mảnh đất đó đâu.

Anh B giải thích nhẹ nhàng: Không ạ. Vì đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và hiện không chứng minh được là tài sản riêng của bà H hay tài sản riêng của ông C nên theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Khoản 1, 2 Điều 66 Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết: 1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản. 2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài ản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.) bà H được hưởng ½ mảnh đất mà không cần chia thừa kế. Còn ½ mảnh đất của ông C được tính là phần di sản thừa kế thì được chia làm 3, của Bà chỉ được một phần bằng với các con của ông C.

Bà H bắt đầu bình tĩnh lại.

Anh B tiếp lời, vì ông C và bà H không có thỏa thuận chia tài sản nên ở đây sẽ áp dụng cách chia theo pháp luật. Theo đó vì, mảnh đất là tài sản chung của vợ chồng ông C và bà H nên: Bà H được ½ tài sản chung; ½ còn lại chia đều cho 3 người thừa kế là Bà H, Chị D và Anh E. Như vậy, tổng phần bà H nhận được = ½ + 1/6 = 2/3 mảnh đất. Chị D và anh E mỗi người 1/6 mảnh đất.

Anh E thở dài:

– Thì ra là vậy… Bọn tôi tưởng mẹ kế sẽ được ít hơn.

Chị D gật đầu, bớt nóng nảy.

Chú Q giải thích thêm về quyền và nghĩa vụ các bên trong tranh chấp đất đai. Căn cứ tại Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định về hòa giải tranh chấp đất đai thì nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải, hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, hoặc cơ chế hòa giải khác theo quy định của pháp luật.). Như vậy việc hòa giải ở cơ sở về tranh chấp đất đai, nếu không thành sẽ hòa giải ở UBND xã đây là yêu cầu bắt buộc. Nếu hòa giải không thành, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân nơi có đất để yêu cầu chia thừa kế. Tòa án sẽ xác minh hồ sơ, nguồn gốc đất, xác định phần của từng người và ra phán quyết.

Nếu hòa giải thành, các bên có thể làm thủ tục phân chia di sản thừa kế, tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất. Các bên sẽ giữ được hòa khí, không phải ra tòa.

Chú Q nhấn mạnh:

“Pháp luật không buộc gia đình phải ra tòa nếu tự thỏa thuận được. Tòa chỉ là phương án cuối cùng.”

Chị D: tôi không hiểu, mẹ H đã được ½ tài sản chung rồi sao còn được thêm 1/3 tài sản ba tôi để lại nữa.

Cô K– đại diện Hội Phụ nữ – nhẹ nhàng nói với chị D, anh E:

– Đây là quy định của pháp luật để bảo đảm công bằng trong chia thừa kế. Bác H dù là mẹ kế nhưng bác đã chăm sóc anh chị rất tận tình. Ba các anh chị cũng được bác chăm sóc khi ốm đau. Việc bác nhận được phần di sản của bác C cũng là xứng đáng.

Chị D cúi gằm mặt. Cô K nhìn sang bà H:

– Còn bác H, dù là con riêng của ông C nhưng tài sản của bố chúng để lại thì anh chị ấy cũng có quyền thừa kế. Bác nhận phần lớn hơn là đúng luật, nhưng cũng nên để anh chị ấy nhận được phần thừa kế của mình.

Bà H rưng rưng: Tôi không muốn chiếm hết. Tôi sợ hai đứa nghĩ tôi tham. Nhưng tôi sống cả đời với ông ấy… tôi chỉ lo không còn chỗ ở, già rồi, biết đi đâu.

Anh B đề nghị: Vậy chúng ta bàn cách chia hợp lý trên tinh thần tự nguyện. Luật chỉ là khung – còn chia cụ thể thể nào có thể thỏa thuận được.

* Kết quả hòa giải

Sau gần hai giờ trao đổi, ba người thống nhất: chia mảnh đất làm 3 phần, bà H ở trên mảnh đất có nhà ở, bà H tiếp tục ở và thờ cúng ông C. Anh E và chị D được chia hai phần đất bằng nhau, mỗi người được bà H cho thêm 50m2 đất.

Các bên ký vào biên bản hòa giải thành.

Khi ký xong, chị D nắm tay bà H: Cảm ơn mẹ. Bọn con nóng vội quá… Bây giờ biết luật rồi, tụi con không trách mẹ nữa.

Bà H bật khóc:

– Mẹ chỉ sợ mất luôn tình cảm các con, mất gia đình. Mẹ cũng lo mất đi chỗ dựa. Nhà của mẹ vẫn luôn chào đón các con, nhớ đứa mấy đứa bé về thăm bà nhé.

Ba con người đã hiểu nhau, trân trọng nhau và cùng hướng về người đã mất. Không phải pháp luật chia tách họ, mà chính pháp luật – khi được giải thích đúng – đã giữ họ lại gần nhau hơn. Hòa giải viên còn hướng dẫn họ ra cơ quan đăng ký đất đai để làm thủ tục xác nhận quyền sử dụng đất đối với từng người và đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tránh mâu thuẫn phát sinh về sau.

1.7. Câu chuyện 07

CHIẾC XE ĐỨNG TÊN MỘT NGƯỜI – TÀI SẢN CỦA CẢ HAI

* Nội dung vụ việc

Vợ chồng anh Quyền và chị Lý sống với nhau gần 10 năm. Họ có một cửa hàng nhỏ bán nông sản và chiếc ô tô bán tải chuyên vận chuyển hàng thuê. Chiếc xe ô tô bán tải là phương tiện làm ăn chính, phục vụ công việc hằng ngày, vì vậy được xem như “cần câu cơm” của gia đình. Khi mua xe, để tiện giao dịch, đăng ký xe chỉ đứng tên chị Lý vì chị là người thường xuyên đi làm thủ tục, giao dịch với khách hàng. Hai vợ chồng không hề nghĩ đó sẽ là nguyên nhân gây mâu thuẫn về sau.

Thời gian gần đây, công việc buôn bán khó khăn, anh Quyền đầu tư sai chỗ, hàng hóa tồn kho nhiều. Gia đình thiếu vốn, khoản nợ ngày càng lớn. Chị Lý lo lắng:

– Anh à, mình không thể để nợ kéo dài. Em nghĩ phải bán chiếc xe để trả một phần nợ, rồi tính lại việc làm ăn.

Nghe vậy, anh Quyền hốt hoảng:

– Không được! Xe là phương tiện duy nhất còn lại để kiếm tiền. Bán đi thì chúng ta sống bằng gì?

Chị Lý đáp: – Nhưng nếu giữ lại, chủ nợ thúc ép thì còn nguy hơn!

Cuộc nói chuyện biến thành tranh cãi. Anh Quyền không chấp nhận bán xe. Chị Lý thì cho rằng xe đứng tên chị, chị có quyền tự quyết:

– Giấy đăng ký tên em. Em bán thì anh không được cản!

Anh Quyền tức giận:

  • Xe đó là tài sản chung! Em đứng tên chỉ là thủ tục thôi! Anh không cho bán.

Chị Lý cho rằng sau này làm ăn được sẽ mua lại xe sau, nhưng anh Quyền cho rằng nếu không có xe thì làm ăn càng khó khăn hơn, khó mà vực dậy nổi. Hai vợ chồng bất đồng quan điểm, việc bán xe cứ lơ lửng không quyết. Cuộc sống khó khăn, hai vợ chồng ngày ngày đá thúng đụng nia. Chị Lý luyến tiếc cuộc sống sung túc trước kia, nói bóng gió vì liên lụy chồng mà cả nhà khổ sở. Anh Quyền ban đầu còn im lặng, sau đó tự ái nên cũng nói xẵng: ở được thì ở không ở được thì biến, lải nhải mãi. Hai vợ chồng ngột ngạt đến mức không muốn nhìn mặt nhau, hai vợ chồng có khi cãi vã ngay ở cửa hàng, hàng xóm xung quanh không ai không biết chuyện hai vợ chồng có mâu thuẫn. Có khi hai anh chị còn ầm ĩ làm mất trật tự khu phố. Mẹ chồng chị Lý không muốn gia đình con trai tan nát vì một chiếc xe đã nhờ ông B tổ trưởng tổ hòa giải đến hòa giải cho hai con của mình.

* Quá trình hòa giải

Tại nhà văn hóa khu dân cư, buổi hòa giải có mặt Ông Biên – hòa giải viên, anh Quyền và chị Lý, bầu không khí ban đầu khá căng thẳng.

Ông Biên nhẹ nhàng mở lời: Hôm nay, tôi mời hai vợ chồng đến không phải để phân ai đúng ai sai, mà để làm rõ pháp luật và giúp hai người hiểu nhau hơn. Ông Biên lật cuốn Luật Hôn nhân và gia đình 2014, giải thích rõ ràng cho hai vợ chồng biết, Theo điều 33 quy định về tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy tài sản mà vợ chồng cùng mua trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung không phụ thuộc vào việc đăng ký tài sản đứng tên ai. Trường hợp này, chiếc xe mua trong thời kỳ hôn nhân để phục vụ gia đình là tài sản chung, dù đăng ký tên chị Lý.

Chị Lý ngạc nhiên: – Ý chú là… xe đứng tên cháu nhưng vẫn là tài sản chung?

Ông Biên gật đầu:

– Đúng vậy. Giấy đăng ký chỉ thể hiện người đứng tên làm thủ tục hành chính, không quyết định quyền sở hữu thực sự của tài sản đối với vợ chồng.

Ông Biên tiếp tục giải thích vì là tài sản chung nên theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định thì việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận; đối với tài sản giá trị lớn như bất động sản; động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình thì việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng. Như vậy, chiếc xe ô tô là tài sản có giá trị lớn, đang là nguồn thu nhập chủ yếu của hai vợ chồng thì việc bán, tặng, cầm cố, thế chấp… tài sản chung phải có sự thỏa thuận của cả vợ và chồng.  Chị Lý không được tự ý bán xe chỉ vì đứng tên. Mặc dù chiếc xe chỉ ghi tên chị L trong giấy đăng ký xe nhưng là tài sản chung, là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình nên việc quyết định bán chiếc xe phải có sự thỏa thuận đồng ý bằng văn bản của vợ chồng anh Quyền và chị Lý. Chị Lý có thể bán chiếc xe nhưng phải có sự đồng ý của anh Quyền. Trường hợp chị Lý tự mình bán chiếc xe cho người thứ ba mà chưa được sự đồng ý, ủy quyền của anh Quyền thì giao dịch đó vô hiệu.

Anh Quyền thở phào. Còn chị Lý lặng người, cảm thấy mình đã hiểu sai. Ông Biên nhìn cả hai: Pháp luật chỉ là nền tảng, còn hạnh phúc gia đình nằm ở cách hai người lắng nghe nhau. Pháp luật là cái lý, còn bây giờ nói chuyện tình cảm. Hai vợ chồng suốt ngày gây gổ thế không chỉ gây mâu thuẫn gia đình mà còn ảnh hưởng trật tự an ninh khu phố. Giờ anh chị thẳng thắn nói chuyện với nhau xem có khúc mắc gì nữa nào?

Chị Lý nói trong nghẹn ngào: Nói thật với bác là vợ chồng cháu đang nợ rất nhiều, chủ nợ gọi suốt. Cháu muốn bán xe để bớt áp lực cho cả nhà.

Anh Quyền bộc bạch: Cháu hiểu suy nghĩ của vợ cháu. Nhưng cái xe là tài sản chung cũng là phương tiện duy nhất để cháu kiếm tiền lúc này. Bán đi, chúng ta mất nguồn sống.

Ông Biên hỏi: Hai cháu hiện có cách nào vừa giữ xe vừa trả nợ không?

Chị Lý im lặng suy nghĩ. Anh Quyền nói: Nếu mình vay người thân một khoản, trả bớt nợ gấp trước; còn lại giữ xe để chạy hàng trả dần. Em mở rộng tìm nguồn hàng mới, anh sẽ hỗ trợ thêm để tăng thu nhập.

Chị Lý dịu lại: Nếu vậy thì được. Em chỉ cần biết anh có kế hoạch rõ ràng.

* Kết quả hòa giải

Sau khi thảo luận, ông Biên đưa ra phương án hòa giải: Xe là tài sản chung không bán khi chưa có sự đồng thuận của cả hai. Không bán xe ở thời điểm hiện tại vì hai vợ chồng thống nhất đây là nguồn thu nhập chính. Thống nhất kế hoạch trả nợ, tạm vay người thân để trả khoản gấp, giữ xe để tiếp tục làm ăn, tạo thu nhập, ghi chép thu – chi rõ ràng để tránh mâu thuẫn sau này.

Cả hai ký biên bản hòa giải. Không khí nhẹ nhõm hẳn. Trên đường về, chị Lý nắm tay chồng: Em xin lỗi, em nóng nảy quá. Em tưởng đứng tên xe là có quyền quyết định…

Anh Quyền mỉm cười: Anh cũng sai. Anh làm ăn thua lỗ nên để em lo lắng nhiều. Từ nay mình cùng gánh nhé.

Chiếc xe bán tải vẫn nằm trước sân, lấm bụi đường và nắng gió – như minh chứng cho những vất vả mà hai vợ chồng cùng vượt qua. Nhưng quan trọng hơn: họ hiểu rằng tài sản chung không chỉ là vật chất, mà còn là trách nhiệm, sự sẻ chia và niềm tin của cả hai.

 1.8. Câu chuyện 08

CĂN NHÀ HAI PHẦN TÌNH – MỘT PHẦN PHÁP LÝ

* Nội dung vụ việc

Anh A và chị B kết hôn được ba năm. Hai bên gia đình thương con, gom góp tiền để hỗ trợ hai vợ chồng trẻ mua một căn nhà nhỏ. Ngày nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, cả hai đã vui mừng khôn xiết khi trên giấy ghi rõ:

“Đồng sở hữu: Anh A – Chị B”. Căn nhà là tổ ấm của họ, là minh chứng cho sự chung tay của hai bên gia đình nội, ngoại. Nhưng hạnh phúc không kéo dài. Một buổi chiều, anh A gặp tai nạn giao thông và ra đi đột ngột. Chị B sụp đổ hoàn toàn. Sau đám tang, chị quyết định chuyển về quê sống và muốn bán căn nhà để trả nợ, lo chi phí sinh hoạt. Tưởng rằng chuyện sẽ dễ dàng, ai ngờ…

Khi nghe tin chị định bán nhà, bố mẹ anh A lập tức phản đối: Căn nhà đó là tài sản của cả anh A. Nó mất rồi thì phải chia thừa kế! – mẹ anh A nói.

Chị B lắc đầu từ chối: Đây là tài sản chung của vợ chồng con. Con là chủ sở hữu, con có quyền quyết định bán.

Ba anh A giận dữ: Không thể được! Phần của thằng A phải chia theo pháp luật. Nếu con bán là con vi phạm quyền của gia đình!

Hai bên to tiếng. Tình cảm vốn tốt đẹp sau đám tang bỗng trở nên căng thẳng.

Để giải quyết mâu thuẫn trong êm đẹp, chị B nhờ bà H – hòa giải viên của thôn cũng là thẩm phán về hưu đứng ra giúp hòa giải. Nhận dược đơn của chị B, bà H đã thông tin cho tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị cho mình xử lý việc này và được tổ trưởng tổ hòa giải đồng ý.

* Quá trình hòa giải

Tại buổi hòa giải ở nhà anh A, chị B, bà H lắng nghe cả hai phía giãi bày tâm sự. Trong không khí nặng nề. Bà H mở lời:

– Hôm nay tôi tổ cuộc buổi hòa giải này để hòa giải mâu thuẫn giữa bố mẹ anh A và chị B, mà giúp mọi người hiểu rõ quy định pháp luật, để vừa giữ được quyền lợi của mỗi bên, vừa không mất tình cảm gia đình. Sau khi nghe trình này nguyên nhân mâu thuẫn và ý định của hai bên.

Bà H giải thích các quy định của pháp pháp luật về tài sản chung vợ chồng và tài sản thừa kế. Căn nhà là tài sản gì? Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chỉ rõ tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và đứng tên cả hai vợ chồng là tài sản chung. Căn nhà của anh A – chị B, không phải tài sản riêng của anh A hay chị B, mà là tài sản chung hợp nhất.

Chị B nhìn ba mẹ chồng: Con đâu có nói sai đâu, nhà là tài sản chung của vợ chồng con, đứng tên cả hai mà.

Bà H tiếp, theo pháp luật, khi một bên vợ/chồng chết, tài sản chung được chia đôi, chị B đương nhiên được 50% giá trị căn nhà. (Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Phần của anh D là 50% căn nhà. Mặc dù là đồng sở hữu nhưng phần đó không tự động thuộc về chị B, mà phải chia thừa kế. Theo quy định tại Điều 651 của Bộ luật Dân sự về chia thừa kế thì hàng thừa kế thứ nhất bao gồm vợ/chồng; Cha mẹ ruột; Con ruột; Cha mẹ nuôi, con nuôi. Vì Anh A mất không để lại di chúc nên di sản của anh A sẽ được chia theo pháp luật, Trong trường hợp này, người thừa kế gồm: Chị B: Ba anh A; Mẹ anh A;

Bà H nói với chị B: Con là vợ, con được hưởng một phần thừa kế bằng ba mẹ anh A, chứ không được hưởng toàn bộ di sản của chồng.

Chị B im lặng, lần đầu tiên hiểu rõ bản chất pháp lý. Bà H nhẹ nhàng nói:

– Gia đình mình mất người thân là nỗi đau lớn. Chúng ta không nên để tài sản làm tình cảm sứt mẻ. Pháp luật là khuôn khổ, nhưng lòng người mới là thứ giữ được mái ấm.

Bà quay sang chị B:  Con muốn bán nhà là vì con khó khăn. Nhưng con phải tôn trọng quyền thừa kế của ba mẹ anh A. Con không được tự ý bán. Bố mẹ chồng con đã già, con trai lại mất nên họ cũng muốn có một khoản dưỡng già.

Bà quay sang ba mẹ chồng: Bà con cũng phải hiểu, chị B là người mất chồng, tương lai bấp bênh. Con bé còn phải chăm sóc con cái sau này. Không nên đòi hỏi về tình cảm quá gay gắt.

Hai bên bắt đầu dịu lại. Qua trao đổi, hai bên thống nhất hòa giải theo phương án: Về chia tài sản chung thì chị B nhận 50% giá trị căn nhà (phần tài sản chung của chị). Đối với di sản của anh A tỷ lệ chia thừa kế phần của anh A như sau: 50% còn lại chia đều cho 3 người thừa kế theo pháp luật theo đó, chị B Ba anh A Mẹ anh A mỗi người được 1/3 của 50% = 1/6 giá trị căn nhà. Như vậy, tổng phần chị B được hưởng 50% (tài sản chung) + 1/6 (thừa kế) chị sẽ được chia 2/3 giá trị căn nhà, còn ba mẹ anh A mỗi người hưởng 1/6. Để mỗi người đều nhận được phần của mình thì có 02 giải pháp. Giải pháp 1 là bán nhà – chia tiền tương ứng với phần giá trị đã chia, chị B giữ 2/3 số tiền, còn ba và mẹ anh A mỗi người 1/6 số tiền. Giải pháp 2 là chị B giữ nhà và chị B có trách nhiệm trả cho ba mẹ anh A phần giá trị 1/3 căn nhà, thì chị B sẽ được giữ toàn quyền sở hữu.

* Kết quả hòa giải

Sau giờ hòa giải kéo dài, ba mẹ anh A thở dài: Thôi, bố mẹ không muốn làm khó con nữa. Con bán hay giữ là quyền con. Theo mẹ con vẫn nên giữ lại căn nhà, sau này, làm ăn có tiền trả lại phần giá trị thừa kế của A cho bố mẹ là được. Dù sao đó cũng là mái ấm của hai đứa.

Chị B bật khóc: Con biết ơn ba mẹ. Con không muốn vì anh A mất mà gia đình chia rẽ. Bà H mỉm cười, biên bản hòa giải thành được ký. Căng thẳng được hóa giải bằng sự hiểu biết và lòng cảm thông./.

Giới thiệu Đề cương Tuyên truyền

Đề cương tuyên truyền pháp luật (trang web thành viên của https://trangtinphapluat.com): Nơi cung cấp các đề cương tuyên truyền, nghiệp vụ tuyên truyền pháp luật Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *