Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2026. Để kịp thời tuyên truyền, phổ biến những nội dung chính của Luật, Decuongtuyentruyen.com biên soạn, giới thiệu tới bạn đọc Đề cương tuyên truyền Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025. Đề cương gồm 02 phần: Phần 1. Sự cần thiết xây dựng Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025. Phần 2. Những nội dung cơ bản của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025.
Đề cương tuyên truyền Luật Tương trợ tư pháp về hình sự năm 2025
I. PHẦN 1. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG LUẬT
- Cơ sở chính trị và pháp lý
Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 21/11/2007, có hiệu lực kể từ 01/7/2008. Tính đến nay, Luật đã được thực thi trong 15 năm. Luật gồm 7 chương với 72 điều quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp (TTTP) về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong TTTP. Trong đó, hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được quy định tại Chương V (gồm 12 điều, từ Điều 49 đến Điều 60) và một số quy định tại Chương I, Chương VI. Điều 65 của Luật TTTP quy định trách nhiệm của Bộ Công an về việc tiếp nhận, chuyển giao, xem xét, giải quyết các yêu cầu của nước ngoài về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; xem xét và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và thực hiện hoạt động TTTP theo thẩm quyền; kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về TTTP. Luật TTTP đã thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện pháp luật, tăng cường hội nhập quốc tế về pháp luật và cải cách tư pháp (Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020).

Tuy vậy, cùng với những yêu cầu mới phát sinh của quá trình hội nhập quốc tế, yêu cầu của hoàn thiện pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sau hơn 15 năm triển khai thực hiện Luật TTTP đã bộc lộ những hạn chế bất cập cần được tháo gỡ, giải quyết. Chính vì vậy, thực tiễn công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đặt ra yêu cầu cần thiết là phải xây dựng Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
– Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh chiến lược hoàn thiện pháp luật, cải cách tư pháp và tăng cường hội nhập quốc tế nói chung cũng như lĩnh vực chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù nói riêng. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Kết luận số 83-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về tổng kết Nghị quyết số 48-NQ/TW) xác định một trong các nhiệm vụ trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế là “Chú trọng việc nội luật hóa những điều ước quốc tế mà Nhà nước ta là thành viên liên quan đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Sớm ban hành Luật dẫn độ tội phạm và chuyển giao người bị kết án phạt tù”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Kết luận số 84-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW) cũng xác định một trong những nhiệm vụ chiến lược cải cách tư pháp là “hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp” và “tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp”. Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế xác định một trong những định hướng chủ yếu của hội nhập quốc tế là “xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy, thiết lập bộ máy đủ thẩm quyền và năng lực để chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát và phối hợp các hoạt động hội nhập quốc tế”. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới xác định một trong các mục tiêu trọng tâm là xây dựng “hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận”. Đây là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
– Hiến pháp năm 2013 đề cao việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; các luật mới ban hành có một số quy đinh mới liên quan đến hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù như Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, yêu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật là cần thiết.

– Việt Nam là thành viên của ba điều ước quốc tế đa phương có quy định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù (Công ước quốc tế về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy, chất hướng thần năm 1988; Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000; Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003). Đồng thời, Việt Nam đã ký kết 22 hiệp định về chuyển giao người bị kết án phạt tù với các nước: Ba Lan (1993), Vương quốc Anh (2008), Ôx-trây-lia (2008), Hàn Quốc (2009), Thái Lan (2010), Hung-ga-ri (2013), Ấn Độ (2013), Liên bang Nga (2013), Séc (2017), Tây Ban Nha (2014), Xri Lan-ca (2014), Căm-pu-chia (2016), Mông Cổ (2018), Nhật Bản (2019), Mô-dăm-bích (2019); Lào (2020); I-ran (2023); Ác-hen-ti-na (2023); I-ta-li-a (2023); Ca-dắc-xtan (2023); Các tiểu Vương quốc Ả -rập Thống nhất (2023); Trung Quốc (2023). Qua rà soát thấy một số điều khoản về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong Luật TTTP năm 2007 còn một số nội dung chưa thực sự phù hợp với quy định trong các hiệp định này (về điều kiện chuyển giao, kinh phí, quá cảnh người bị kết án, xem xét lại bản án…). Vì vậy, việc ban hành Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù sẽ góp phần tạo điều kiện thực hiện tốt các cam kết, nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam, tạo nền tảng ký kết các điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; qua đó, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
– Nghị quyết số 05/NQ-CP ngày 05/01/2024 của Chính phủ về Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 12 năm 2023 đã thông qua Hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
- Cơ sở thực tiễn
Qua hơn 15 năm triển khai thực hiện Luật TTTP năm 2007, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã đạt được nhiều kết quả. Đến nay, Bộ Công an đã tiếp nhận, xử lý 188 hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù (đã chuyển giao 38 phạm nhân cho nước ngoài và tiếp nhận 05 phạm nhân về Việt Nam). Kết quả này góp phần tạo điều kiện tốt hơn cho người đang chấp hành án phạt tù và nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân. Bên cạnh kết quả đạt được, quy định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong Luật TTTP năm 2007 và hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập như sau:
Thứ nhất, Luật TTTP điều chỉnh chung cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù nhưng mỗi lĩnh vực lại có đối tượng, phạm vi điều chỉnh với tính chất đặc thù riêng, mục đích và nguyên tắc hợp tác khác nhau; cụ thể như: Nguyên tắc hợp tác TTTP trong Luật được quy định chung cho cả bốn lĩnh vực nhưng khi áp dụng vào từng lĩnh vực lại không giống nhau, bởi vì TTTP về hình sự xuất phát từ hoạt động tố tụng hình sự mang tính chất công quyền còn TTTP về dân sự lại xuất phát từ yêu cầu giải quyết vụ việc của cá nhân, pháp nhân mang tính chất tư; nguyên tắc trong TTTP về hình sự là trên cơ sở yêu cầu của nước yêu cầu còn chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù lại chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù hay việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong TTTP về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù có những yêu cầu chặt chẽ hơn so với TTTP về dân sự.
Thứ hai, chủ thể yêu cầu, chủ thể thực hiện, trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện các yêu cầu TTTP trong từng lĩnh vực hoàn toàn độc lập và khác nhau.
Thứ ba, từ phương diện quản lý nhà nước, Luật TTTP quy định giao Bộ Tư pháp làm đầu mối giúp Chính phủ quản lý nhà nước chung nhưng như trên đã đề cập mỗi lĩnh vực có đặc thù, nguyên tắc riêng, trình tự, thủ tục độc lập dẫn đến thực tiễn việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan gặp bất cập, hạn chế; cụ thể: (i) Công tác quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp còn nặng về hình thức do chủ yếu chỉ được thực hiện thông qua hoạt động báo cáo trên cơ sở tổng hợp thông tin, số liệu từ các cơ quan đầu mối; (ii) Các cơ quan đầu mối trong từng lĩnh vực TTTP khác khó phát huy hết vai trò, trách nhiệm và sự chủ động trong quản lý, chỉ đạo công tác TTTP ở lĩnh vực riêng do mình phụ trách.
Thứ tư, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TTTP được thực hiện chủ yếu thông qua các điều ước quốc tế. Theo quy định của Luật TTTP, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và Luật Điều ước quốc tế năm 2016 thì từng bộ, ngành (Bộ Tư pháp, Bộ Công an, VKSNDTC) chủ trì đề xuất ký kết và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực được giao phụ trách. Hiện nay việc ký kết các điều ước quốc tế về TTTP được tách riêng từng lĩnh vực độc lập, không điều chỉnh đa lĩnh vực như trước đây. Theo đó, Bộ Tư pháp chủ trì đề xuất ký kết và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế TTTP về dân sự, VKSNDTC chủ trì đề xuất ký kết và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế TTTP về hình sự, Bộ Công an chủ trì đề xuất ký kết và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế về dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Việc tách Luật TTTP, giao nhiệm vụ cơ quan đầu mối trong từng lĩnh vực cũng phù hợp với công tác ký kết và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà các bộ, ngành đang chủ trì.
Thứ năm, Luật TTTP hiện hành chưa quy định cụ thể, toàn diện các vấn đề liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Luật TTTP chưa có quy định cụ thể về: Cơ quan có trách nhiệm thông báo cho người đang chấp hành án phạt tù về quyền được chuyển giao; cơ quan có trách nhiệm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù gửi cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; điều kiện từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù; nguyên tắc chuyển đổi hình phạt; hiệu lực của việc chuyển giao đối với Việt Nam và đối với nước ngoài; xác minh sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù đối với việc chuyển giao; quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù; thời điểm người đang chấp hành án phạt tù có quyền rút đơn xin chuyển giao; tạm đình chỉ xem xét yêu cầu chuyển giao; hủy bỏ quyết định chuyển giao; thời hạn tổ chức tiếp nhận, bàn giao người đang chấp hành án phạt tù; xử lý tình huống phạm nhân vừa được xem xét giảm án vừa trong quá trình xem xét chuyển giao; các tiêu chí đánh giá tính hợp lệ của hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; các trường hợp hủy quyết định thi hành quyết định tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và thẩm quyền, trình tự, thủ tục ra quyết định hủy quyết định thi hành tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù …, đặc biệt là chuyển đổi tội danh, hình phạt. Chuyển đổi tội danh và hình phạt là một vấn đề lớn, liên quan trực tiếp đến chính sách hình sự và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta, do vậy, cần được quy định trong luật một cách cụ thể, chi tiết. Vấn đề này chỉ được quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 58 của Luật TTTP nên khó áp dụng trên thực tiễn. Các vấn đề liên quan đến việc ra quyết định chuyển đổi hình phạt của toà án rất phức tạp, trường hợp không quyết định chính xác có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người đang chấp hành án phạt tù. Thực tế đã xảy ra trường hợp do hành vi mà người đang chấp hành án phạt tù thực hiện và bị xử phạt tù ở nước ngoài không tương đương với một cấu thành một tội danh cụ thể quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) của Việt Nam mà cấu thành tội phạm nằm rải rác tại các tội danh trong các điều luật khác nhau của BLHS hiện hành của Việt Nam nên khi ra quyết định tiếp nhận, Tòa án nhân dân có thẩm quyền đã không ra quyết định chuyển đổi hình phạt mà giữ nguyên hình phạt của nước ngoài trong quyết định tiếp nhận.

Việc thiếu các quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã làm giảm hiệu quả hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong thời gian qua (trên thực tế từ năm 2007 đến nay, Việt Nam mới chỉ tiếp nhận 05 công dân Việt Nam đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam để tiếp tục chấp hành án phạt tù theo đề nghị của phía nước ngoài). Một số vấn đề đã được khắc phục trong Thông tư số 01/2013/TTLT-BCA-BTP-BNG-VKSNDTC-TANDTC ngày 22/02/2013 hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên, đây chỉ là các quy định ở cấp Thông tư, giá trị pháp lý chưa cao. Vì vậy, các nội dung này cần được quy định cụ thể trong luật.
Thứ sáu, Luật TTTP được ban hành cách đây 15 năm nên một số quy định không còn phù hợp với các quy định của một số luật mới ban hành; cụ thể như sau:
– Trước hết, là việc để chỉ cùng một đối tượng nhưng Luật TTTP sử dụng thuật ngữ “chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù” nhưng Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) sử dụng thuật ngữ “chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù”.
– Tiếp đến là quy định về thẩm quyền xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Theo quy định tại khoản 5 Điều 55 của Luật TTTP, Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền này. Hiện nay, quy định này không phù hợp với quy định của Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 (Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền này). Theo đó, cần quy định lại theo hướng Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xem xét kháng cáo, kháng nghị để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này (hiện nay Luật này đang trong quá trình sửa đổi, bổ sung nhưng quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao trong việc kháng cáo, kháng nghị các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh không thay đổi).
– Luật TTTP chưa có quy định về Cơ quan trung ương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và vai trò, trách nhiệm của Cơ quan trung ương. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và Luật Công an nhân dân năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2023) quy định Bộ Công an là Cơ quan trung ương về chuyển giao người đang chấp hành hành án phạt tù. Với tư cách là luật chuyên ngành về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, cần có quy định thống nhất với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và Luật Công an nhân dân năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2023).
Thứ bảy, Luật TTTP quy định TTTP nói chung và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù nói riêng được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế. Trường hợp không có điều ước quốc tế thì áp dụng nguyên tắc có đi có lại và pháp luật trong nước. Chính vì vậy, sự phù hợp giữa quy định của pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là rất quan trọng. Điều này có ảnh hưởng đến việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế. Tuy nhiên, qua rà soát nhận thấy một số quy định của Luật TTTP không phù với pháp luật và thông lệ quốc tế, các hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam đã ký kết; cụ thể như sau:
– Để thống nhất cách hiểu, các hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam đã ký kết đều có quy định về giải thích từ ngữ (nước nhận, nước chuyển giao, bản án, hình phạt, người đang chấp hành án phạt tù, Cơ quan trung ương…). Theo đó, cần có quy định về giải thích từ ngữ trong luật mới để làm căn cứ đàm phán các hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
– Hầu hết các hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam đã ký kết đều quy định Bộ Công an là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên, Luật TTTP không có quy định này. Vì vậy, cần có quy định này trong Luật.
– Về điều kiện thời hạn còn lại phải chấp hành án của người được chuyển giao, Luật TTTP quy định người đang chấp hành án phạt tù còn phải chấp hành ít nhất 01 năm, trong trường hợp đặc biệt phải còn ít nhất 06 tháng (điểm d khoản 1 Điều 50). Tuy nhiên, trong hầu hết các hiệp định song phương về chuyển giao người bị kết án phạt tù mà Việt Nam đã ký kết với các nước đều quy định người bị kết án phạt tù còn phải chấp hành ít nhất 01 năm, trong trường hợp đặc biệt có thể dưới 01 năm do các Bên thống nhất. Quy định như hiện tại của Luật TTTP gây khó khăn nhất định trong ký kết và thực hiện điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cũng như không triệt để thực hiện nguyên tắc nhân đạo trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, đặc biệt trong trường hợp người đang chấp hành án phạt tù mắc bệnh hiểm nghèo. Theo đó, nên quy định người bị kết án phạt tù còn phải chấp hành ít nhất 01 năm, trong trường hợp đặc biệt có thể dưới 01 năm. Trường hợp đặc biệt ở đây có thể là người đang chấp hành án phạt tù mắc bệnh hiểm nghèo, người cao tuổi, người già yếu, người là trẻ vị thành niên, phụ nữ đang mang thai hoặc để đáp ứng yêu cầu đối ngoại, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội… Theo đó, cần quy định phù hợp giữa quy định pháp luật trong nước và quy định của các hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam đã ký kết.
– Điểm b khoản 1 Điều 50 của Luật TTTP quy định người đang chấp hành án phạt tù phải có nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam trong trường hợp người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài được tiếp nhận về Việt Nam. Căn cứ khoản 8 Điều 2 của Luật Cư trú năm 2020 thì có thể hiểu nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam của người bị kết án là nơi người đó sinh sống ổn định, lâu dài và đã được đăng ký thường trú tại một địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam ngay trước khi người đó chuyển đến sinh sống ở nước kết án. Theo đó, người bị kết án là công dân Việt Nam nhưng có nơi thường trú cuối cùng ở một nước khác trước khi di chuyển đến nước kết án thì người đó không được chuyển giao về Việt Nam để tiếp tục chấp hành án phạt tù. Qua nghiên cứu, rà soát nhận thấy điều kiện này chỉ được quy định trong 1/22 Hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam đã ký kết với các nước. Các điều ước quốc tế đa phương và song phương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và pháp luật các nước trên thế giới đều không quy định về điều kiện người bị kết án phải có nơi thường trú cuối cùng ở nước nhận (một số nước thậm chí tiếp nhận cả người bị kết án phạt tù không phải là công dân của nước đó). Như vậy, có thể khẳng định quy định tại điểm b) khoản 1 Điều 50 của Luật TTTP không phù hợp với các điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam là thành viên và pháp luật quốc tế. Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về việc xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, nhân văn, nhân đạo, văn minh, tiến bộ, đồng bộ, thống nhất, khả thi và cụ thể hóa các quy định về quyền con người của Hiến pháp năm 2013, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù sẽ xây dựng chính sách tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao về nơi có điều kiện tốt hơn để tiếp tục chấp hành án phạt tù và tái hòa nhập cộng đồng. Việc bỏ điều kiện người bị kết án phạt tù phải có nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam chính là cụ thể hóa chính sách này trong Luật. Điều này cũng thể hiện trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam trong bảo hộ công dân cũng như chính sách đối xử nhân văn, công bằng, khoan dung đối với tất cả công dân (trong nước cũng như ngoài nước, có nơi thường trú cuối cùng hay không có nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam) bị lầm lỡ. Từ khi Luật TTTP năm 2007 có hiệu lực (ngày 01/8/2008) đến nay chỉ mới có 05 công dân Việt Nam đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài (04 phạm nhân được tiếp nhận từ Vương quốc Anh và 01 phạm nhân được tiếp nhận từ Liên bang Nga) xin chuyển giao về Việt Nam để tiếp tục chấp hành án phạt tù. Số lượng này do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là người bị kết án phạt tù không có nguyện vọng về Việt Nam để tiếp tục chấp hành án phạt tù. Cùng với đó, việc chuyển giao phải có sự đồng ý của nước chuyển giao và nước nhận. Chính vì vậy, việc bỏ điều kiện người bị kết án có nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam cũng sẽ không làm tăng đột biến số công dân Việt Nam đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam tiếp tục chấp hành án phạt tù. Theo đó, không làm phát sinh thêm đáng kể kinh phí phục vụ việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù so với những lợi ích cho cộng đồng, cho nhà nước và cho cá nhân người bị kết án phạt tù. Trên cơ sở các thông tin, tài liệu do phía nước ngoài cung cấp, Bộ Công an có đủ cơ sở dữ liệu và các biện pháp nghiệp vụ để có thể xác định được nơi thường trú tại Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao về Việt Nam. Vì vậy, bỏ điều kiện quy định về người bị kết án phạt tù có nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam không ảnh hưởng đến việc xác định nơi thường trú tại Việt Nam của người đó. Theo đó, nên bỏ quy định về điều kiện người đang chấp hành án phạt tù phải có nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam để phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế.
– Về chi phí, Luật TTTP quy định nước yêu cầu chi trả mọi chi phí chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên, trong các hiệp định song phương về chuyển giao người bị kết án phạt tù mà Việt Nam đã ký kết với các nước đều quy định chi phí cho việc chuyển giao do nước nhận chi trả trừ chi phí phát sinh hoàn toàn trong lãnh thổ nước chuyển giao. Ngoài ra, trong hầu hết các hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam đã ký kết quy định các bên có thể thu lại một phần hoặc toàn bộ chi phí chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù từ người được chuyển giao hoặc nguồn khác (gia đình, tổ chức từ thiện…). Theo đó, trong trường hợp Việt Nam là bên nhận, nên quy định chi phí chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù sẽ do nước tiếp nhận chịu trừ chi phí phát sinh hoàn toàn trong lãnh thổ nước chuyển giao. Chí phí này do ngân sách nhà nước đảm bảo. Người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao hoặc gia đình hoặc các tổ chức, cá nhân khác có thể tự nguyện đóng toàn bộ hoặc một phần kinh phí phục vụ việc chuyển giao người đó từ nước ngoài về Việt Nam. Quy định như vậy sẽ bảo đảm tốt hơn quyền của người bị kết án phạt tù được chuyển giao về Việt Nam để tiếp tục chấp hành án phạt và tái hòa nhập cộng đồng. Đồng thời, mở ra khả năng các cơ quan chức năng trong việc được sử dụng các nguồn kinh hợp pháp trong hỗ trợ hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cũng như tiết giảm kinh phí nhà nước phục vụ công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Quy định cụ thể về vấn đề này sẽ được xây dựng sao cho bảo đảm tính khả thi, nhân văn, nhân đạo, công bằng, tránh phát sinh các tiêu cực và nâng cao hiệu quả của công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Như vậy, quy định mới sẽ có lợi cho cả người bị kết án phạt tù và nhà nước Việt Nam.
– Các hiệp định đều có quy định về thông báo cho người đang chấp hành án phạt tù về quyền được chuyển giao, xác minh sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù, quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù, thông báo về tình hình chấp hành án của người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao và thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định của tòa án của Bên chuyển giao. Các nội dung này rất cần thiết có trong quy định pháp luật trong nước để làm căn cứ ký kết và thực hiện các hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên, Luật TTTP không có các quy định này.
Do đó, để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật TTTP năm 2007 và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra hiện nay, việc xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là cần thiết.
II. PHẦN 2. NỘI DUNG CƠ BẢN LUẬT CHUYỂN GIAO NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ
Ngày 26/11/2025, Quốc hội khóa XV biểu quyết tại hội trường thông qua Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Kết quả biểu quyết cho thấy có 429/430 đại biểu Quốc hội có mặt tán thành (chiếm 90,51% tổng số đại biểu).
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Luật này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài.
Luật quy định Bộ Công an là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có trách nhiệm làm đầu mối trao đổi thông tin, tài liệu liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; lập, gửi và tiếp nhận yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xem xét, giải quyết yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Decuongtuyentruyen.com sẽ tiếp tục cập nhật những nội dung chính của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
BLog đề cương tuyên truyền pháp luật Đề cương tuyên truyền văn bản luật