Chiều 10/12/2025, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Viên chức (sửa đổi) năm 2025 với tỉ lệ 92,39% đại biểu có mặt tán thành.
Luật Viên chức ban hành năm 2010 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2019. Trong quá trình thực hiện, Luật Viên chức đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong quản lý viên chức, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện cũng bộc lộ một số hạn chế cần được nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp với giai đoạn mới, cụ thể:
– Thứ nhất, thời gian vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành các Nghị quyết, Kết luận trong đó xác định nhiệm vụ, giải pháp đột phá trong sử dụng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao như: Có chính sách đặc thù để thu hút, trọng dụng, giữ chân các nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia, các tổng công trình sư trong nước và nước ngoài có khả năng tổ chức, điều hành, chỉ huy, triển khai các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo và đào tạo nguồn nhân lực (tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024); Thực hiện chính sách đặc thù, vượt trội, áp dụng chế độ thù lao, thuê khoán tương xứng để thu hút, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia các nhiệm vụ, hoạt động xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật …. Thu hút, tiếp nhận chuyên gia, nhà khoa học pháp lý, luật gia, luật sư giỏi vào khu vực công (tại Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025); Huy động đội ngũ doanh nhân xuất sắc, có tâm, có tầm tham gia quản trị đất nước (tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 30/4/2025); Xây dựng cơ chế, chính sách đột phá để thu hút, sử dụng chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và người nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục và đào tạo trong nước (tại Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024).

Thực tiễn cho thấy việc các quy định về tuyển dụng viên chức hiện nay chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về tổ chức bộ máy và về quản lý nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu tạo sự liên thông, linh hoạt giữa khu vực công và khu vực tư, đặc biệt là thu hút, trọng dụng người có kinh nghiệm, có tài năng tham gia vào khu vực công lập. Cơ chế thi tuyển, xét tuyển còn chưa linh hoạt; kết quả chưa phản ánh sát yêu cầu về năng lực chuyên môn của người dự tuyển theo đúng nhu cầu tuyển dụng, chưa có sự phân biệt để bảo đảm tính chủ động, năng động đối với các loại hình đơn vị sự nghiệp tự chủ khác nhau, đặc biệt là đối với đơn vị tự chủ nhóm 1 và đơn vị tự chủ nhóm 2.
– Thứ hai: Một số nội dung quản lý viên chức chưa được quy định hoặc đã được quy định tại Luật Viên chức hiện hành nhưng không còn phù hợp với thực tiễn, cần được sửa đổi, bổ sung như: (1) Quy định vị trí việc làm như Luật hiện hành[1] chưa phản ánh đúng tính chất của hoạt động nghề nghiệp làm căn cứ để bố trí, sử dụng theo từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ của viên chức ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp dịch vụ; (2) Các quy định về quản lý viên chức chưa phản ánh được tính chuyên môn của hoạt động nghề nghiệp, còn có nội dung tương đồng với đội ngũ công chức; (3) Các quy định về tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái còn phát sinh thủ tục không cần thiết; (4) Chưa có quy định cho phép viên chức được ký hợp đồng theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về dân dự với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác để đáp ứng nhu cầu của đội ngũ viên chức về việc làm cũng như nâng cao thu nhập của người lao động; (5) Còn thiếu quy định viên chức được xem xét loại trừ, miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm nếu có sai sót, thiệt hại khi thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo. (6) Hiện nay, công tác quản lý hồ sơ viên chức chủ yếu vẫn thực hiện theo phương thức lưu trữ hồ sơ giấy. Việc quản lý như hiện nay là chưa phù hợp, thiếu sự kết nối, liên thông giữa các cấp quản lý, gây khó khăn trong kiểm tra, giám sát và đánh giá, đặc biệt là khó khăn trong việc cập nhật dẫn đến sai sót, thất lạc, hư hỏng, tốn kém chi phí cả về cơ sở vật chất và nhân lực.
– Thứ ba: Việc phân loại mô hình đơn vị sự nghiệp công lập theo mức độ tự chủ tài chính là cần thiết, tuy nhiên chưa phản ánh hết tính chất từng loại hình cung cấp dịch vụ công theo chức năng, nhiệm vụ và theo phương thức cung cấp, từ đó xây dựng chính sách đặc thù đối với mỗi loại hình và tạo ra các bất cập, cụ thể là: (01) Việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập chủ yếu dựa trên mức độ tự chủ tài chính chưa phản ánh đúng bản tính chất cung cấp dịch vụ công của từng loại hình đơn vị; (02) Cơ chế quản lý tài chính và nhân sự áp dụng theo phân loại này trong tất cả các lĩnh vực dẫn đến sự thiếu công bằng giữa các đơn vị và không tạo động lực cải cách; (03) Việc phân loại theo mức độ tự chủ tài chính mà không xét đến tính chất dịch vụ công cung cấp chưa tạo động lực phát triển, đặc biệt là đối với các lĩnh vực có khả năng xã hội hóa.

Bên cạnh đó, cơ chế quản lý đối với mỗi loại hình cần được tiếp tục đổi mới theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý đội ngũ viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập; nhà nước chỉ quản lý bằng công cụ quy định về tiêu chuẩn nghề nghiệp, quy chuẩn về đạo đức, quy trình thủ tục về chuyên môn nghiệp vụ, đơn giá dịch vụ. Đối với các nội dung khác cần phát huy tối đa tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với từng mô hình đơn vị sự nghiệp, đặc biệt là các đơn vị tự chủ nhóm 1, nhóm 2 cần giao toàn quyền về quyết định mô hình tổ chức và nhân sự, bao gồm cả việc bổ nhiệm lãnh đạo tại đơn vị.
Nghị quyết số 1157/NQ-UBTVQH15 đã chỉ rõ hạn chế về mô hình tổ chức các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay, theo đó: Việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập chủ yếu là sáp nhập, hợp nhất cơ học, chưa tính đến đặc thù của một số ngành, lĩnh vực; Vẫn còn tình trạng phân tán, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực nghiên cứu của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nhiều đơn vị sự nghiệp công lập chậm đổi mới, quản trị nội bộ yếu. Việc hướng dẫn và áp dụng mô hình quản trị như doanh nghiệp đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư còn lúng túng, chưa hiệu quả
– Thứ tư: Trong thời gian vừa qua, Quốc hội đã thông qua một số luật, nghị quyết liên quan đến quản lý đội ngũ viên chức trong các ngành, lĩnh vực đặc thù (Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15, được Quốc hội ban hành ngày 16/06/2025, có hiệu lực từ 01/01/2026; Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới Sáng tạo số 93/2025/QH15 ngày 27/06/2025, có hiệu lực từ 01/10/2025), theo đó, nội dung các luật có điều chỉnh một số quy định phù hợp với đặc thù quản lý ngành như cơ chế tuyển dụng, sử dụng và hợp tác quốc tế (lĩnh vực đào tạo), cơ chế tự chủ theo mô hình linh hoạt, tăng mức độ đổi mới, sáng tạo (lĩnh vực khoa học, công nghệ). Điều này đòi hỏi Luật Viên chức cũng cần được đổi mới để đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời đại mới, đồng thời bảo đảm đồng bộ với quy định của các Luật hiện hành.
Tại Báo cáo số 930/BC-ĐGS ngày 26/8/2024 của Đoàn Giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội[2] có nội dung kiến nghị: Nghiên cứu sửa đổi toàn diện Luật Viên chức do tình hình kinh tế – xã hội đã có nhiều thay đổi, sự cạnh tranh của khu vực tư cũng như yêu cầu của người dân đối với các dịch vụ công ngày càng cao, đòi hỏi đội ngũ viên chức phải ngày càng đổi mới, nâng cao về chất lượng để bắt kịp và đáp ứng yêu cầu xã hội.
Từ những cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nêu trên, việc xây dựng dự án Luật Viên chức (sửa đổi) là cần thiết.
[1] Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập chưa đáp ứng yêu cầu tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ
[2] Báo cáo số 930/BC-ĐGS ngày 26/8/2024 của Đoàn Giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2018 – 2023”.
Phần 2. Những nội dung cơ bản của Luật Viên chức năm 2025
Luật Viên chức (sửa đổi) gồm 6 Chương 43 Điều. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Nghĩa vụ chung của viên chức là trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia, dân tộc. Có đạo đức trong sáng, mẫu mực; chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Bảo vệ bí mật nhà nước; giữ gìn và bảo vệ tài sản công, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản được giao; tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức.
Luật quy định những việc viên chức không được làm, đó là trốn tránh, thoái thác, đùn đẩy trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý nghỉ việc, bỏ việc; tham gia đình công; đăng tải, phát tán, phát ngôn thông tin sai lệch làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của đất nước, địa phương, đơn vị nơi công tác.
Lợi dụng hoạt động nghề nghiệp để tuyên truyền chống lại chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc gây phương hại đến thuần phong, mỹ tục, đời sống văn hóa, tinh thần của Nhân dân và xã hội.

Có hành vi tham ô, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, trục lợi, nhũng nhiễu và các hành vi khác vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; sử dụng tài sản công, tài sản của Nhân dân trái pháp luật.
Có hành vi phân biệt đối xử dân tộc, giới tính, độ tuổi, khuyết tật, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xã hội dưới mọi hình thức trong thực hiện nhiệm vụ; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp.
Những việc không được làm theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí; pháp luật về doanh nghiệp; pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước; những việc không được làm khác theo quy định của pháp luật, của cấp có thẩm quyền.
Nguyên tắc tuyển dụng viên chức cần bảo đảm đúng nhu cầu sử dụng thực tế
Nguyên tắc tuyển dụng viên chức, đó là bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, cạnh tranh, bình đẳng và đúng pháp luật. Bảo đảm tuyển dụng đúng nhu cầu sử dụng thực tế. Người được tuyển chọn phải đáp ứng ngay yêu cầu của vị trí việc làm dự tuyển.
Thực hiện ưu tiên trong tuyển dụng đối với người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp phục viên và các đối tượng chính sách khác theo quy định của pháp luật.
Về việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua hình thức thi tuyển và xét tuyển đối với từng nhóm đối tượng theo quy định của Chính phủ.
Ngoài hình thức tuyển dụng theo quy định, các đối tượng sau đây nếu đáp ứng ngay yêu cầu của vị trí việc làm thì thực hiện theo hình thức tiếp nhận vào làm viên chức:
Đó là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, năng khiếu đặc biệt, người có kinh nghiệm phù hợp; người đang ký hợp đồng làm công việc tại đơn vị sự nghiệp công lập; các đối tượng khác theo quy định của pháp luật về ngành, lĩnh vực.
Luật cũng quy định, đối với người đang là cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, tổ chức cơ yếu nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm và được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản chuyển sang làm viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập thì không phải thực hiện quy định tuyển dụng tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Về thẩm quyền tuyển dụng viên chức (Điều 18), Luật quy định theo hướng, cơ quan quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức theo phân cấp, ủy quyền của Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Căn cứ vào quy mô tổ chức, lĩnh vực hoạt động và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng, Chính phủ quy định thẩm quyền tuyển dụng viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại khoản 2 Điều này có nhu cầu tuyển dụng nhưng không tự mình thực hiện việc tuyển dụng thì đề xuất cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện.
Decuongtuyentruyen.com sẽ tiếp tục cập nhật những nội dung mới của Luật Viên chức năm 2025
BLog đề cương tuyên truyền pháp luật Đề cương tuyên truyền văn bản luật